CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU DƯỚI NỀN BẰNG PHƯƠNG PHÁP CỐ KẾT CHÂN KHÔNG 1. Tổng quan về đất yếu 1. Các khái niệm ban đầu về nền đất yếu Khi xây dựng các công trình thì đặc tính chịu tải của nền đất có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định của công trình trong quá trình vận hành dưới tác dụng của tải trọng thường xuyên, tạm thời và cả tải trọng đặc biệt, tránh được các hậu quả khôn lường do các hiện tượng lún, lún không đều, sạt, trượt…Tuy nhiên do yêu cầu về dân sinh và giao thông, rất nhiều công trình không có khả năng lựa chọn linh hoạt địa điểm thi công như công trình đô thị ven sông, ven biển, đường giao thông, đê điều, cầu, cảng…Các công trình này bắt buộc phải xây dựng trên nền đất có đặc tính chịu tải kém, gọi chung là nền đất yếu. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nền đất yếu.
Nếu nền đất không đủ khả năng chịu tải, không đủ độ bền và có độ biến dạng lớn, cần phải gia cố mới có thể thi công và vận hành thì gọi là đất yếu. Đây là một quan điểm mang tính vận dụng cao, được chấp nhận rộng rãi, tuy nhiên quan điểm này lại không hạn định rõ ràng vì đối với một số công trình, một nền cụ thể có thể coi là nền đất yếu, nhưng đối với một số công trình khác thì không. Điểm này gây khó khăn cho việc quy hoạch xây dựng công trình. Một quan điểm khác cho rằng đất yếu là đất có khả năng chịu tải nhỏ (vào khoảng (50-100) kPa), có tính nén lún lớn, hầu như bảo hòa nước, có hệ số rỗng lớn (e>1), mô đun biến dạng thấp (E<5000kPa).
Đối với xây dựng đường ô tô, theo tiêu chuẩn 22TCN262-2000, nền đất yếu có thể là đất sét, sét pha bụi mềm, bùn, than bùn và đất hữu cơ. Tất cả các loại đất này được bồi tụ trong nước một cách khác nhau, với đất sét mềm được bồi tụ ở bờ biển hoặc gần biển. Ở trạng thái tự nhiên độ ẩm của chúng thường bằng hoặc lớn hơn giới hạn chảy, hệ số rỗng lớn (đất sét mềm e ≥ 1,5; đất sét pha e ≥ 1), cường độ lực dính theo kết quả cắt nhanh không thoát nước nhỏ hơn 15kPa, góc ma sát trong φ < 100, hoặc lực dính từ kết quả cắt cánh hiện trường Cu ≤ 35 kPa. Loại có nguồn gốc hữu cơ (than bùn và đất hữu cơ) thường hình thành từ đầm lầy, nơi đọng nước ~5~ thường xuyên hoặc có mực nước ngầm cao, các loại thực vật phát triển, thối rửa và phân hủy tạo ra các trầm tích hữu cơ lẫn trầm tích khoáng vật gọi là đất đầm lầy than bùn, hàm lượng hữu cơ chiếm (20-80%).
Trong điều kiện tự nhiên than bùn là loại đất bị nén lún lâu dài, không đều và mạnh nhất, hệ số nén lún có thể đạt (3-8) kPa-1. Theo quan điểm xây dựng của một số nước, đất yếu được xác định theo tiêu chuẩn về sức kháng cắt không thoát nước Su và chỉ số xuyên tiêu chuẩn N như sau: - Đất rất yếu: Su ≤ 12,5 kPa hoặc N ≤ 2; - Đất yếu: Su ≤ 25 kPa hoặc N ≤ 4. Tóm lại đất yếu là đất không thuận lợi cho việc xây dựng công trình. Xây dựng công trình trên nền đất yếu đòi hỏi phải xử lý nền thật tốt để đảm bảo an toàn cho việc xây dựng và vận hành.
Sự phân bố vùng đất yếu trên lãnh thổ Việt Nam Theo kết quả nguyên cứu địa chất và địa lý, tầng trầm tích này chủ yếu là trầm tích tam giác châu, thường gặp ở các miền đồng bằng, trong đó có hai đồng bằng lớn nhất là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ. Căn cứ vào nguồn gốc và điều kiện hình thành của các đồng bằng, đồng thời dựa vào tài liệu thăm dò địa chất công trình, sơ bộ có thể nhận xét về đặc điểm chung của các tầng đất yếu ở Việt Nam như sau: - Đồng bằng Bắc Bộ chủ yếu là loại trầm trích tam giác châu cũ và tam giác châu mới của hai sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình và các chỉ lưu của chúng. Xét về mặt địa hình, địa mạo thì đây là miền đồng bằng thuộc hoại hình bồi tụ. Do các điều kiện địa chất, địa hình như vậy nên chiều dày tầng trầm tích này rất dày, từ vài mét đến hơn 100m.
- Đồng bằng Nam Bộ có thể chia làm ba khu vực dựa vào chiều dày lớp đất yếu. Nguồn gốc của các tầng đất yếu đều là loại trầm tích châu thổ (sông, bãi bồi, tam giác châu), trầm tích bờ, vùng vịnh và đều thuộc trầm tích kỷ thứ tư như sau: a) Khu vực có lớp đất yếu dày 1 ÷ 30m, bao gồm các vùng ven thành phố Hồ Chí Minh, thượng nguồn các sông Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ Đông, phía tây Đồng ~6~ Tháp Mười, rìa quanh vùng Bảy Núi cho tới ven biển Hà Tiên, Rạch Giá, rìa Đông Bắc đồng bằng từ Vũng Tàu đến Biên Hòa. b) Khu vực có lớp đất yếu dày 5 ÷ 30m, phân bố cận kề khu vực a và chiếm đại bộ phận đồng bằng và khu trung tâm Đồng Tháp Mười. c) Khu vực có lớp đất yếu dày 15 ÷ 30m chủ yếu thuộc lãnh thổ các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre tới vùng duyên hải Tiền Giang, Cần thơ Sóc Trăng.
Một số phương pháp xử lý và cải tạo nền đất yếu phổ biến hiện nay Hiện nay, có rất nhiều phương pháp xử lý và cải tạo nền đất yếu khác nhau được sử dụng với mục đích làm tăng sức chịu tải và giảm tính nén lún của nền đất. Việc lựa chọn phương pháp nào để xử lý nền đất là phụ thuộc vào cấu tạo địa chất, các đặc tính của đất, chi phí xử lý, điều kiện sẵn có của vật liệu cần thiết và kinh nghiệm xử lý nền trước đây. Nhìn chung có thể chia các phương pháp xử lý nền thành hai loại: Loại thứ nhất bao gồm các phương pháp xử lý mà trong đó người ta sử dụng vật liệu rời bên ngoài để gia cố nền như: cột đá, cột đất trộn với các tác nhân hóa học, phụt vữa xi măng… nhằm làm cho các vật liêu này cùng tham gia chịu lực với đất nền. Nguyên lý chính là tận dụng độ cứng lớn của các vật liệu được đưa vào nền để phân phối lại tải trọng bên trên theo độ cứng, nhờ vậy nền đất yếu sẽ phải chịu tải trọng nhỏ hơn tương ứng với sức chịu tải nó.
Ngoài ra, các phương pháp này cũng góp phần làm tăng các chỉ tiêu cơ lý của đất nền tùy theo loại đất, phương pháp xử lý và thi công. Loại thứ hai bao gồm các phương pháp xử lý làm cho đất nền cố kết do tác dụng thoát nước như: bấc thấm, giếng cát kết hợp gia tải trước, bơm hút chân không hoặc bơm hút chân không kết hợp gia tải trước… mục đích đẩy nhanh tốc độ thoát nước và rút ngắn thời gian cố kết của nền đất. Trong chương này tác giả lần lượt giới thiệu về các phương pháp xử lý nền có liên quan đến phương pháp bơm hút chân không. Gia tải trước bằng đất đắp Một trong những phương pháp nhằm cải tạo các tính chất của đất là phương pháp gia tải trước.
Một cách tổng quan, gia tải trước là quá trình nén đất bằng ứng ~7~ suất thẳng đứng do con người tạo ra trước khi thi công công trình. Việc gia tải trước ảnh hưởng đến các yếu tố như độ lún cố kết sơ cấp, thứ cấp và sức chống cắt không thoát nước của đất. Tải trọng dùng để gia tải trước có các dạng như đất đắp, bể chứa nước, hút chân không và thường được sử dụng kết hợp với phương pháp giếng thấm. Phương pháp gia tải trước đơn giản nhất là phương pháp sử dụng đất (đá, cát…) đắp lên bề mặt đất cần gia cố để tạo áp lực tác dụng.
Khi tải trọng đặt trên nền đất yếu thì lúc đầu nước lỗ rỗng sẽ gánh chịu. Áp lực nước lỗ rỗng sẽ giảm dần khi nước lỗ rỗng thấm theo phương đứng ra khỏi nền đất, làm cho nền đất cố kết. Để không gây ra sự mất ổn định cho đất nền thì tải trọng phải được thi công thành hai hay nhiều giai đoạn. Đôi khi việc chất tải theo phương pháp này không khả thi do chiều cao chất tải quá lớn, đất nền quá yếu hoặc nguồn vật liệu dùng để gia tải ở cách xa vị trí thi công.1 Gia tải trước bằng đất đắp trên nền đất yếu 1.
Giếng thấm Lún cố kết luôn gây ra nhiều vấn đề đối với nền móng công trình, hệ số thấm của sét yếu rất nhỏ cho nên độ lún cố kết chỉ kết thúc sau một thời gian khá lâu. Để rút ngắn thời gian cố kết người ta dùng kỹ thuật giếng thấm kết hợp với các phương pháp gia tải trước. Dưới tác dụng của gia tải, gradient thủy lực của nước trong lỗ rỗng gia tăng làm cho nước thấm theo phương ngang vào các giếng thấm và sau đó nước sẽ thấm tự do một cách nhanh chóng theo giếng thấm lên trên bề mặt. Như vậy dùng giếng thấm sẽ rút ngắn được chiều dài đường thấm cho nên thời gian cố kết cũng rút ngắn được đáng kể.
Giếng thấm có hai chức năng rõ rệt là rút ngắn thời ~8~ gian cố kết và tăng nhanh sức chống cắt để nền công trình ổn định hơn. Giếng thấm có các loại như giếng cát, giếng thấm chế tạo sẵn.2 Gia tải trước kết hợp giếng thấm Daniel D. Moran là người đầu tiên đề nghị sử dụng giếng cát vào năm 1925 và được thi công thử nghiệm thử một vài năm sau đó tại California, Mỹ. Cát sử dụng trong giếng cát phải được lựa trọn kỹ để có được hệ số thấm tốt nhất, do đó cát được vận chuyển từ các nguồn thích hợp bên ngoài công trình.
Ngoài ra, trong khi thi công giếng cát rất có khuyết điểm là giếng cát bị đứt đoạn không đảm bảo được vai trò thoát nước do lỗi trong thi công hoặc do chuyển vị ngang của nền. Từ đó, người ta bắt đầu nghĩ ra cách thay thế bằng vật liệu thuận lợi hơn để thi công. Năm 1948, Cardboard drain, Kjellman thử nghiệm PVD hoàn toàn bằng giấy các-tông tại Thụy Điển, nhưng loại bấc thấm các-tông này lại nhanh chóng bị hư hại do áp lực của đất và hệ số thấm của nó thấp. Vào năm 1972, Oleg Wager, một cộng sự của Kjellman, giới thiệu một loại PVD mới có lõi bằng nhựa tổng hợp bao quanh bởi giấy thấm, gọi là Geodrain.
Geodrain sau đó được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là châu Âu và Nhật Bản.