CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm TCDN liên quan đến việc quản lý hiệu quả và hiệu quả các quỹ của công ty để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đó, bao gồm dự báo và giám sát việc cung cấp vốn (nơi các nguồn vốn được đưa đến), phân phối vốn (nơi các nguồn lực được định hướng) , và giám sát các nguồn lực (liệu quỹ có được sử dụng hiệu quả hay không) (Watson và Head, 2016). Nguyễn Minh Kiều (2009) định nghĩa về TCDN như sau: “Tài chính nói chung là các hoạt động liên quan đến việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ.
Tài chính doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra.” TCDN dựa trên ba nguyên tắc, đó là nguyên tắc đầu tư (thiết lập nơi các công ty đầu tư kinh phí của họ), nguyên tắc tài trợ (quản lý hỗn hợp tài trợ - nợ và vốn chủ sở hữu - được đặt ra để tài trợ cho các khoản đầu tư) và nguyên tắc cổ tức (đặt ra số tiền thu nhập cần được tái đầu tư vào công ty và số tiền phải được hoàn trả cho các chủ sở hữu của công ty) (Damodaran, 2014). Tóm lại, TCDN là lĩnh vực phụ của tài chính liên quan đến cách các công ty giải quyết các nguồn tài trợ, cơ cấu vốn, kế toán và quyết định đầu tư. TCDN thường quan tâm đến việc tối đa hóa giá trị của cổ đông thông qua việc lập kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn và thực hiện các chiến lược khác nhau. Các hoạt động tài chính doanh nghiệp bao gồm từ đầu tư vốn đến xem xét thuế.
Trong suốt những năm 1930 và 1940, TCDN quan tâm đến việc huy động vốn đầy đủ và duy trì tính thanh khoản và cấu trúc tài chính lành mạnh. Nó được gọi là 8 “Phương pháp Tiếp cận Truyền thống” để mua sắm và sử dụng các nguồn vốn theo yêu cầu của một công ty. Theo cách tiếp cận truyền thống, TCDN được coi là một nghệ thuật và khoa học về huy động và chi tiêu quỹ. Nhu cầu phân bổ vốn có lợi nhất đã được ghi nhận trong năm 1950.
Trong suốt những năm 1960 và 1970, nhiều học giả đã giới thiệu các công cụ và khái niệm phân tích khác nhau như báo cáo lưu chuyển vốn, phân tích tỷ lệ, chi phí vốn, thu nhập trên mỗi cổ phiếu, cấu trúc vốn tối ưu, lý thuyết danh mục đầu tư,… Kết quả là, một khái niệm rộng hơn về tài chính bắt đầu được sử dụng. Do đó, cách tiếp cận hiện đại về tài chính nhấn mạnh đến việc phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn vốn bên cạnh việc mua sắm của họ. Vai trò và chức năng 1. Vai trò Các công ty lớn cần thông tin chi tiết về dữ liệu có thể hỗ trợ họ đưa ra các quyết định như: Vấn đề cổ tức của cổ đông; Đề xuất các phương án đầu tư; và Quản lý công nợ, tài sản và các khoản đầu tư vốn.
Tầm quan trọng của TCDN được chia đều giữa các giai đoạn sau: Lập kế hoạch tài chính: Đây là nơi mà các hiểu biết được sử dụng để xác định tài chính của DN một cách hiệu quả. Cần phải đưa ra các quyết định về lượng tài chính cần thiết, nguồn tài chính như thế nào, đầu tư vào đâu, khoản đầu tư có mang lại lợi nhuận hay không, lợi nhuận dự kiến là bao nhiêu và từ đó quyết định một kế hoạch hành động chắc chắn. Huy động vốn: Đây là một giai đoạn quan trọng làm nổi bật tầm quan trọng của TCDN và các quyết định được thực hiện ở đây sẽ liên quan đến việc đánh giá tài sản của DN. Để huy động đủ vốn, một DN có thể quyết định bán cổ phiếu, phát hành giấy nợ và cổ phiếu, vay ngân hàng, yêu cầu chủ nợ đầu tư,… Các khoản đầu tư: Các khoản đầu tư có thể là vốn lưu động hoặc tài sản cố định.
Vốn cố định được sử dụng để tài trợ cho việc mua máy móc, cơ sở hạ tầng, tòa nhà, nâng cấp công nghệ và tài sản. Tuy nhiên, vốn lưu động là cần thiết cho các hoạt 9 động hàng ngày như mua nguyên vật liệu, chi phí hoạt động của công ty, tiền lương và chi phí chung và các hóa đơn. Cần có rất nhiều phân tích dữ liệu và tầm nhìn xa trước khi thực hiện các khoản đầu tư như vậy và các DN sẽ chỉ huy động vốn khi họ có kế hoạch đầu tư hợp lý. Đây là một giai đoạn quan trọng trong quy trình và liên quan đến việc lập kế hoạch và quản lý tài sản xuất sắc, tác động trực tiếp đến sức khỏe và hiệu quả hoạt động của DN.
Quản lý rủi ro và giám sát tài chính: Cần kiên trì theo dõi các khoản đầu tư. Quản lý rủi ro nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro đã thực hiện trong các khoản đầu tư và tạo thành một phần của quá trình giám sát đang diễn ra. Rất nhiều công nghệ có liên quan đến các bộ công cụ và công nghệ phức tạp đang được triển khai để cung cấp các đánh giá từng phút về giá cả và sự biến động của nó, đánh giá rủi ro, xu hướng thị trường và giám sát vị thế con nợ và chủ nợ. Mục tiêu là đảm bảo lợi nhuận cao hơn.
Ngoài các giai đoạn được liệt kê ở trên, những điểm sau đây tóm tắt tầm quan trọng của TCDN: • TCDN đặt ra các mục tiêu giúp cải thiện định giá của DN và làm cho các nhà đầu tư hài lòng. • Đưa ra các quyết định chiến lược tăng trưởng hoặc tái cơ cấu tác động đến sự kết hợp giữa các khu vực địa lý, đơn vị kinh doanh, sản phẩm / dịch vụ của DN nhằm cải thiện việc định giá. • Đưa ra các quyết định về việc hợp nhất hoặc mua lại các doanh nghiệp khác, hoặc đàm phán mức giá tốt nhất và các điều khoản của DN trong một hoạt động mua bán và sáp nhập. Chức năng Chức năng của TCDN được chia thành hai cách tiếp cận chính là cách tiếp cận truyền thống và phương pháp tiếp cận hiện đại.
10 Cách tiếp cận hiện đại cho rằng TCDN bao gồm cả việc mua lại vốn cũng như phân bổ và sử dụng hiệu quả chúng. Cách tiếp cận hiện đại là một cách phân tích để xem xét các vấn đề tài chính của một công ty. Theo đó, TCDN theo cách tiếp cận hiện đại có thể được chia thành bốn chức năng hoặc quyết định sau: Quyết định đầu tư hoặc quyết định ngân sách vốn; Quyết định tài trợ hoặc quyết định cấu trúc vốn; Quyết định cổ tức hoặc quyết định phân bổ lợi nhuận; và Quyết định thanh khoản hoặc Quyết định quản lý vốn lưu động. Thứ nhất, Quyết định đầu tư: Các quyết định đầu tư liên quan đến cam kết nguồn tài chính với các cơ hội sinh lời lâu dài.
Nó đề cập đến việc lựa chọn các tài sản dài hạn mà các quỹ sẽ được đầu tư bởi một công ty. Các quyết định này bao gồm việc phân bổ các nguồn tài chính cho các hoạt động dự kiến của công ty. Ngoài ra, nó còn được gọi là quyết định ngân sách vốn và bao gồm cả việc xác định yêu cầu về nguồn tài chính. Các quyết định về ngân sách vốn cung cấp việc lập kế hoạch, điều phối và kiểm soát chi tiêu vốn (chi tiêu dài hạn).
Quyết định lập ngân sách vốn có thể được định nghĩa là quyết định của công ty đầu tư (dòng tiền) vào các khoản tiền hiện tại của mình một cách hiệu quả trong thời gian dài với dự đoán dòng tiền vào trong một loạt năm. Tài sản dài hạn này là những tài sản có ảnh hưởng đến hoạt động của công ty sau một năm. Các quyết định đầu tư tập trung vào mong muốn đầu tư vào các hoạt động mở rộng, mua lại, hiện đại hóa và thay thế và thoái vốn của một doanh nghiệp nhằm tạo ra giá trị cho các cổ đông của doanh nghiệp. Quyết định đầu tư liên quan đến hai khía cạnh quan trọng (i) đánh giá khả năng sinh lời tiềm năng của các khoản đầu tư mới, và (ii) xác định tỷ lệ cắt lỗ để so sánh lợi nhuận tiềm năng của một khoản đầu tư mới.
Các quyết định đầu tư có các đặc điểm sau: • Trao đổi một số quỹ hiện tại để lấy những lợi ích bất ngờ trong tương lai 11 • Cam kết về số tiền lớn hoặc rất lớn • Không thể đảo ngược hoặc có thể hoàn nguyên khi bị tổn thất đáng kể • Ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của công ty trong dài hạn • Có ảnh hưởng đến rủi ro của công ty Tóm lại, ba yếu tố chính của việc lập ngân sách vốn hoặc quyết định đầu tư là: Tài sản dài hạn và thành phần của chúng; Rủi ro của công ty (rủi ro kinh doanh); Khái niệm và cách tính giá vốn. Thứ hai, Quyết định tài trợ: Các quyết định tài trợ liên quan đến hỗn hợp tài chính hoặc cấu trúc vốn hoặc đòn bẩy. Một khi DN đã quyết định xem họ muốn đầu tư vào tài sản nào, câu hỏi tiếp theo sẽ nảy sinh từ nguồn nào mà những tài sản này sẽ được tài trợ. Có hai nguồn vốn chủ yếu là vốn chủ sở hữu và vốn vay.
Các nhà cung cấp vốn cổ phần được gọi là cổ đông hoặc chủ sở hữu của công ty và họ cung cấp vốn không có phần thưởng cố định và đảm bảo. Các cổ đông chịu rủi ro không nhận được phần thưởng nào và do đó còn được gọi là vốn cổ phần còn lại. Họ có quyền biểu quyết về việc ra quyết định và kiểm soát các công việc của công ty. Mặt khác, các nhà cung cấp Nợ như trái chủ, chủ nợ, Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác (nhà cung cấp vốn cho vay) nhận được lợi tức cố định (dưới dạng lãi suất) khá độc lập với hoạt động của công ty.
Thứ ba, Cơ cấu vốn: Đề cập đến sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ. Quyết định tài trợ liên quan đến việc lựa chọn tỷ lệ của các nguồn này để tài trợ cho các yêu cầu đầu tư của một công ty. Vì cả nợ và vốn chủ sở hữu đều có chi phí vốn khác nhau, người quản lý tài chính phải cố gắng đạt được sự kết hợp tài chính tốt nhất hoặc cơ cấu vốn tối ưu (nơi giá trị thị trường của cổ phiếu được tối đa hóa).