Lời mở đầu: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần VT Vạn Xuân. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Công ty Cổ phần VT Vạn Xuân. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát chung về tài chính doanh nghiệp và phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 1. Một số khái niệm liên quan Trƣớc hết cần tiếp cận khái niệm Báo cáo tài chính sau đó mới tìm hiểu đến khái niệm phân tích báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 (IAS 1) “Báo cáo tài chính cung cấp thông tin tình hình tài chính, kết quả hoạt động tài chính cũng nhƣ lƣu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp và đó là thông tin có ích cho việc ra quyết định kinh tế”. Trong hệ thống kế toán Việt Nam, BCTC là loại báo cáo kế toán phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Hệ thống BCTC ban hành theo Thông tƣ 200/2014/TT – BCTC ngày 22/12/2014 bao gồm các mẫu biểu sau: - Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 – DN) - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 – DN) - Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 – DN) - Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09 – DN) Phân tích báo cáo tài chính “Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho ngƣời sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ những rủi ro về tài chính trong tƣơng lai của doanh nghiệp.TS Nguyễn Văn Công (2017) 9 Phân tích báo cáo tài chính là việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích để xem xét mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, từ đó đánh giá về tình hình tài chính hiện tại cũng nhƣ dự báo về tình hình tài chính trong tƣơng lai của doanh nghiệp. Theo tác giả PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang (2011) Phân tích báo cáo tài chính là quá trình phân chia, phân loại hệ thống chỉ tiêu phản ánh trên báo cáo tài chính theo nhiều hƣớng khác nhau, sử dụng các phƣơng pháp phân tích phù hợp nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho chủ thể phân tích. Hay nói cách khác: “Phân tích báo cáo tài chính là việc sử dụng các dữ liệu trên báo cáo tài chính, kết hợp với phƣơng pháp phân tích phù hợp để đánh giá tình trạng tài chính và hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ có thể dự báo về tình hình tài chính của một doanh nghiệp.” theo giáo trình “Phân tích báo cáo tài chính” của TS.
Vũ Thị Thanh Thủy. Đối tƣợng nghiên cứu của phân tích BCTC là những thông tin trình bày trên các BCTC bao gồm các thông tin nhƣ cơ cấu tài sản, nguồn vốn, thu nhập, chi phí, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Những thông tin trên BCTC hợp lý và đầy đủ sẽ giúp cho công tác phân tích BCTC có đƣợc ý nghĩa thiết thực và giúp ngƣời sử dụng thông tin BCTC đƣa ra các quyết định chính xác và kịp thời. Quy trình phân tích báo cáo tài chính Quy trình phân tích báo cáo tài chính đƣợc thực hiện qua các bƣớc theo sơ đồ: Bƣớc 4: Bƣớc 1: Bƣớc 2: Bƣớc 3: Bƣớc 5: Xác định Thu thập Xử lý dữ Xác định Báo cáo nội dung dữ liệu liệu và mục tiêu kết quả phân tích phân tích phân tích phân tích phân tích Sơ đồ 1.1 : Quy trình phân tích báo cáo tài chính 10 Bƣớc 1: Xác định mục tiêu phân tích: Chúng ta cần xác định đƣợc mục tiêu phân tích, mỗi chủ thể phân tích khác nhau sẽ có mục đích phân tích khác nhau.
Nhà phân tích sẽ dự kiến thời gian tiến hành phân tích và chịu trách nhiệm phân tích. Bƣớc 2: Xác định nội dung phân tích Nội dung phân tích chính là nhóm các chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn, dài hạn hay khả năng sinh lời cũng nhƣ cấu trúc tài chính…Việc xác định nội dung phân tích để giúp nhà phân tích phân tích đƣợc sâu hơn vào những mục tiêu mà mình định trƣớc, tránh tình trạng phân tích thừa, hoặc thiếu nội dung, nhằm giúp chủ thể sử dụng kết quả phân tích một cách hữu ích. Bƣớc 3: Thu thập dữ liệu phân tích Các dữ liệu ở đây không chỉ bên trong doanh nghiệp mà có thể phải thu thập bên ngoài dữ liệu để khẳng định và đảm bảo độ tin cậy. Nhà phân tích cũng cần kiểm tra chất lƣợng của thông tin, dữ liệu phân tích.
Bƣớc 4: Xử lý dữ liệu và phân tích Căn cứ theo nội dung phân tích, tùy theo mỗi quan hệ giữa các nhân tố ảnh hƣởng và chỉ tiêu phân tích mà sử dụng phƣơng pháp thích hợp. Việc xử lý dữ liệu nên ƣu tiên tìm hiểu bắt đầu từ ngành kinh doanh, cấu trúc sở hữu, chính sách kế toán doanh nghiệp áp dụng… Cần chuẩn hóa phần nào các BCTC, đầu tiên chúng ta chuẩn hóa phần trăm các BCTC. BCTC thu đƣợc sẽ gọi là báo cáo tài chính dƣới dạng phần trăm. Bƣớc 5: Báo cáo kết quả phân tích Nhà phân tích sẽ viết BC phân tích dựa trên các số liệu đã xử lý.
Báo cáo cho ban lãnh đạo doanh nghiệp kết quả sau khi phân tích. Báo cáo phân tích cũng cần chỉ đƣợc những hạn chế của quá trình phân tích, những điều chƣa đủ số liệu để kết luận cũng cần đƣợc công bố. Lƣu trữ dữ liệu phân tích cho các mục đích dài hạn. Ý nghĩa phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Phân tích BCTC là công cụ quan trọng trong các chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp.
Phân tích lá quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh, là cơ sở cho ra quyết định đầu tƣ cho vay. Phân tích BCTC có một ý nghĩa rất quan trọng nhằm đánh giá tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định. Trên cơ sở, giúp chủ thể liên quan đến doanh nghiệp đƣa ra các quyết định chính xác trong quá trình kinh doanh. Vì vậy, việc thƣờng xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ hơn bức tranh về thực trạng hoạt động tài chính, xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Từ đó, có những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cƣờng tình hình tài chính của doanh nghiệp. Phân tích BCTC có ý nghĩa trong việc cung cấp thông tin cho các nhóm đối tƣợng. Các đối tƣợng quan tâm đến thông tin của doanh nghiệp có thể chia thành 2 nhóm: nhóm có quyền lợi trực tiếp và quyền lợi gián tiếp. Nhóm có quyền lợi trực tiếp bao gồm: các cổ đông, các nhà đầu tƣ, các chủ ngân hàng, các nhà cung cấp tín dụng, các nhà quản lý trong nội bộ doanh nghiệp.
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng thanh toán. Với lợi thế nắm bắt đƣợc đầy đủ thông tin và hiểu rõ về doanh nghiệp, ngoài lợi nhuận, các nhà quản trị doanh nghiệp còn phải quan tâm đến mục tiêu khác nhau nhƣ tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động, nâng cao chất lƣợng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, hạ chi phí thấp nhất và bảo vệ môi trƣờng. Để đạt đƣợc mục tiêu đó, ngƣời quản lý doanh nghiệp cần phải đƣa ra các quyết sách đúng nhƣ: - Các quyết định đầu tƣ dài hạn và ngắn hạn - Việc tìm kiếm nguồn tài trợ. 12 - Sử dụng vốn và tài sản để đƣợc hiệu quả cao nhất.
Nhƣ vậy, mục tiêu cơ bản và thử thách sống còn của doanh nghiệp là đảm bảo khả năng thanh toán và kinh doanh có lãi. Chỉ quá trình phân tích BCTC thận trọng và đầy đủ mới có thể tìm ra mấu chốt và những vấn đề còn bất cập trong toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ nhƣ hiệu quả sử dụng tài sản cố định còn chƣa hiệu quả, vòng quay vốn lƣu động thấp, khả năng thanh toán không đủ đáp ứng dẫn đến nguy cơ phải giải phóng tài sản để thanh toán nợ đến hạn… trên cơ sở đó mới có thể tìm giải pháp hữu hiệu để khắc phục. Đối với các nhà đầu tư Đây là các doanh nghiệp, các cá nhân quan tâm trực tiếp đến tính toán các giá trị doanh nghiệp, họ góp vốn cho doanh nghiệp sử dụng và sẽ cùng chịu mọi rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải.
Thu nhập của nhà đầu tƣ là tiền chia lợi tức từ lợi nhuận và giá trị tăng thêm của vốn đầu tƣ. Hai yếu tố này phụ thuộc của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tƣ hiện tại cũng nhƣ các nhà đầu tƣ tiềm năng thì mối quan tâm trƣớc hết của họ là việc đánh giá những đặc điểm đầu tƣ của doanh nghiệp. Các đặc điểm này có yếu tố rủi ro, sự hoàn hảo, lãi cổ phần hoặc tiền lời, sự bảo toàn vốn, khả năng thanh toán vốn, sự tăng trƣởng và cá yếu tố về vốn đầu tƣ của họ thông qua tình hình đƣợc phản ảnh trong điều kiện tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt động của nó.
Mặt khác, các nhà đầu tƣ còn quan tâm tới thu nhập của doanh nghiệp. Họ quan tâm tới tiềm năng tăng trƣởng, các thông tin liên quan đến việc doanh nghiệp đã giành những nguồn tiềm năng gì và nhƣ thế nào, những loại rủi ro nào mà doanh nghiệp đang phải đối mặt… Ngoài ra, các nhà đầu tƣ còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động và tính năng hiệu quả của công tác quản lý trong doanh nghiệp để có thể ra các quyết định có nên tiếp tục đầu tƣ vào doanh nghiệp trong tƣơng lai hay không. 13 Đối với các nhà cho vay Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp.