Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các giải pháp và kết luận 3 2CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 2. Bản chất, mục tiêu và ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 2. Bản chất của phân tích báo cáo tài chính Phân tích báo cáo tài chính là một quá trình đánh giá, xem xét và nhận định những nội dung về kết quả hoạt động dựa trên những thông tin có sẵn trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cơ bản bao gồm ba phần chính là bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và báo cáo kết quả kinh doanh.
Việc phân tích báo cáo tài chính cung cấp cho những cổ đông, nhà đầu tư, nhà lãnh đạo doanh nghiệp có được nhìn nhận rõ nét về thực trạng hoạt động kinh doanh, rủi ro còn tồn tại và khả năng phát triển của doanh nghiệp trong trung và dài hạn nhằm hỗ trợ các bên liên quan đưa ra quyết định hợp lý. “Phân tích báo cáo tài chính thực chất là phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thống báo cáo nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau” (Nguyễn Ngọc Quang, 2016). “Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp” (Nguyễn Văn Công, 2019).
Báo cáo tài chính hợp nhất là một báo cáo tài chính tổng hợp tất cả các báo cáo tài chính của công ty mẹ và các công ty con vào một bộ báo cáo duy nhất. Báo cáo tài chính của công ty mẹ và các công ty con sẽ được hợp nhất theo từng khoản mục bằng cách cộng các khoản tương đương của tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, thu nhập khác và chi phí. Qua những khái niệm trên, nội dung phân tích báo cáo tài chính mang lại ý nghĩa rất quan trọng đối với từng doanh nghiệp, từng ngành, địa phương và xã hội. Việc phân tích báo cáo tài chính cung cấp những thông tin đa dạng, toàn cảnh về doanh nghiệp cho một số đối tượng quan tâm khác nhau cả trong và ngoài doanh nghiệp.
Mục đích của phân tích báo cáo tài chính Mục đích cơ bản của phân tích báo cáo tài chính là mang lại thông tin đánh giá khách quan về tiềm lực của doanh nghiệp, sức sinh lời và tiềm năng phát triển của doanh 4 nghiệp trong tương lai. Vì vậy, đối với mỗi đối tượng sử dụng thông tin khác nhau (Ban lãnh đạo doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cung cấp, các tổ chức tín dụng, cổ đông,…) sẽ quan tâm tới các nội dung phân tích khác nhau. Bởi vậy, mỗi một đối tượng sử dụng thông tin trên sẽ có nhu cầu tập trung vào những khía cạnh riêng của "bức tranh tài chính trong doanh nghiệp”. Ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính Thứ nhất, đối với đối tượng sử dụng thông tin bên trong doanh nghiệp: Đối với chủ sở hữu và nhà quản trị doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý yêu cầu năng lực hiểu rõ tình hình tài chính cũng như thông tin các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Do đó, qua phân tích báo cáo tài chính nhà quản trị doanh nghiệp sẽ đánh giá được tiềm lực tài chính và khả năng tăng trưởng kinh doanh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể. Những thông tin này có tác động không nhỏ tới các quyết định của Ban điều hành doanh nghiệp theo xu hướng hợp lý với tình hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp (ra quyết định huy động và đầu tư, lập kế hoạch cơ sở cho các dự toán tài chính tiếp theo, …) trong cả ngắn và dài hạn. Đối với cán bộ, công nhân viên có nguồn thu nhập gắn với lợi ích của doanh nghiệp, việc tiếp cận với kết quả phân tích báo cáo tài chính giúp các cá nhân nắm được về xu hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp có thể xây dựng niềm tin của người lao động đối với quyết định kinh doanh của nhà quản trị.
Thứ hai, đối với nhóm đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp: Đối với các nhà đầu tư (cổ đông, cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp góp vốn,.) có sự quan tâm trực tiếp đến giá trị của doanh nghiệp, lợi nhuận, sức sinh lời của vốn kinh doanh hay sức sinh lời của vốn phần,. Việc tiếp cận thông tin nghiên cứu từ báo cáo tài chính cũng giúp cho các nhà đầu tư ước đoán giá trị doanh nghiệp, giá trị một cổ phiếu, giúp hạn chế đầu tư rủi ro và đem lại hiệu quả cao nhất. Đối với những tổ chức tín dụng hoặc chủ nợ của doanh nghiệp thường đánh giá thông tin doanh nghiệp dựa trên các chỉ tiêu khả năng hoàn trả khoản vay trong từng giai đoạn ngắn hạn, trung và dài hạn. Đối với những khoản vay ngắn hạn, các tổ chức tín dụng đặc biệt để tâm tới khả năng xoay vòng của doanh nghiệp khi khoản nợ đến hạn hay khả năng thanh toán nhanh.
Còn đối với những khoản vay dài hạn, các tổ chức tín dụng dài hạn cần tiếp cận tới khả năng thanh toán nợ dựa vào doanh thu hay khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đối với nhà cung cấp thường quan tâm tới các chỉ số thể hiện khả năng thanh toán để đưa ra những chính sách bán hàng ưu đãi cho doanh nghiệp, từ đó thiết lập nên 5 mối quan hệ hợp tác lâu dài. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước thường có trách nhiệm quản lý, giám sát doanh nghiệp, theo dõi các hoạt động của doanh nghiệp được thể hiện qua các luồng đầu tư tài chính ra thị trường, vậy nên nội dung phân tích tài chính cung cấp tới các cơ quan quản lý thông tin về việc sử dụng vốn của nhà nước, theo sát việc triển khai nghĩa vụ và chấp hành pháp luật theo đúng quy định của doanh nghiệp. Từ đó, giúp các nhà quản lý của cơ quan Nhà nước thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn.
Ngoài ra, việc phân tích báo cáo tài chính hợp nhất của doanh nghiệp giúp cung cấp một cái nhìn tổng quan ở mức độ cao về hiệu quả tài chính của công ty. Các chỉ số trong báo cáo là cái nhìn bao quát cả doanh nghiệp mẹ và các công ty thành viên, đội ngũ quản lý, cổ đông, nhà đầu tư, người cho vay và nhà báo tài chính. Trong báo cáo tài chính này, tài sản, nợ phải trả, dòng tiền, thu nhập và vốn chủ sở hữu của một công ty và các bộ phận của công ty được nêu rõ. Kiểm toán viên cũng dựa trên báo cáo tài chính hợp nhất để đảm bảo tổ chức tuân thủ luật pháp và quy định.
Những dữ liệu hợp nhất từ báo cáo có độ chính xác cao, góp phần giúp chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư đưa ra các quyết định quan trọng dựa trên bằng chứng thay vì cảm tính hoặc phỏng đoán. Kết luận lại, thông tin phân tích tài chính đem lại các thông tin đánh giá khái quát, toàn diện hoạt động phát triển của doanh nghiệp tới đa dạng đối tượng quan tâm tới nghiên cứu. Từ đó, các đối tượng tiếp cận tới báo cáo tài chính của doanh nghiệp phát hiện những tồn tại và hạn chế của doanh nghiệp, đưa ra những quyết định phù hợp cho từng lĩnh vực hoạt động. Vì thế, phân tích tài chính doanh nghiệp là một trong những công cụ đắc lực cho các nhà quản trị để tiến tới hiệu quả kinh doanh tốt nhất.
Nguồn thông tin sử dụng cho phân tích báo cáo tài chính 2. Nguồn thông tin từ hệ thống báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là loại báo cáo tổng quát nhất về mọi tình hình hoạt động của một doanh nghiệp (nguồn tài sản, vốn chủ sở hữu, lưu chuyển tiền tệ, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán,…). Ngoài ra báo cáo tài chính cũng đem lại cho người sử dụng thông tin nguồn dữ liệu đầy đủ, tổng quan của doanh nghiệp để xem xét, đánh giá, phân tích và dự đoán hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp, Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh là một trong những tài liệu tổng quát lên hệ thống thông tin doanh nghiệp.
Hai dạng báo cáo còn lại là Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC cung cấp bổ sung thông tin về các khoản mục sử dụng cho phân tích BCTC. Nguồn thông tin từ bảng cân đối kế toán “Bảng cân đối kế toán cung cấp những thông tin về tài sản, nguồn vốn, cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn cho các đối tượng đưa ra quyết định thích hợp. Thông qua quy mô tài sản, thấy được sự biến động của tài sản giữa các thời điểm, từ đó biết được tình hình đầu tư của doanh nghiệp. Thông qua cơ cấu tài sản nhà quản trị thấy được đặc điểm của hoạt động kinh doanh đã phù hợp với ngành nghề chưa, từ đó có các quyết định đầu tư thích đáng.
Thông tin cơ cấu nguồn vốn cho biết khả năng huy động nguồn vốn của nhà quản trị phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng thấy được trách nhiệm của doanh nghiệp với từng nguồn vốn.” (Nguyễn Ngọc Quang, 2016) Vì vậy, Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) là một trong những tài liệu quan trọng để phân tích, đánh giá một cách tổng quát tình hình kinh doanh, kar năng sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế của doanh nghiệp. Nội dung và kết cấu: B CĐKT được cấu tạo dưới dạng bảng cân đối số, với các tài khoản được sắp xếp theo trình tự hai phần:Phần tài sản - phản ánh giá trị tài sản và Phần nguồn vốn - phản ánh nguồn hình thành tài sản. “Tài sản” và “Nguồn vốn” được chia hai bên (bên trái và bên phải) hoặc một bên (phía trên và phía dưới). Mỗi phần đều có tổng và tổng hai phần luôn luôn bằng nhau do cùng phản ánh một lượng tài sản theo nguyên tắc kế toán.