Đồ án hcmute phân tích ảnh hưởng của thành phần tạo màng đến độ thấm ẩm và tính chất quang học của màng tinh bột bằng phương sai anova

Đồ án nghiên cứu hcmute phân tích ảnh hưởng của thành phần tạo màng đến độ thấm ẩm và tính chất quang học của màng, thiết kế chi tiết, tính toán kỹ thuật theo tiêu chuẩn, đánh giá

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

63
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu vật liệu polymer

1.2. Tổng quan về polymer

1.3. Giới thiệu polymer phân hủy từ tinh bột và cellulose

1.4. Tổng quan về tinh bột

1.4.1. Hình dạng, kích thước của hạt tinh bột

1.4.2. Thành phần hóa học của tinh bột

1.4.3. Cấu trúc của amylose

1.4.4. Cấu trúc của amylopectin

1.4.5. Tính chất của tinh bột

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Nội dung đề tài

2.2. Hóa chất và thiết bị

2.3. Thiết bị sử dụng

2.4. Thiết kế tỷ lệ thành phần hỗn hợp

2.5. Quá trình tiến hành

2.6. Các phương pháp phân tích

2.6.1. Khảo sát phần trăm truyền qua từ máy quang phổ UV-Vis

2.6.2. Khảo sát khả năng thấm ẩm của màng polymer

2.6.3. Khảo sát sự thay đổi màu theo hệ màu Lab

2.6.4. Phương pháp phân tích quét nhiệt vi sai DSC

2.6.5. Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)

2.6.6. Phương pháp xử lí thống kê và đánh giá kết quả

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Phân tích kết quả đo màu L*,a*,b* và ∆E

3.2. Ảnh hưởng của thành phần đến giá trị màu L*

3.3. Ảnh hưởng của thành phần đến giá trị a*

3.4. Ảnh hưởng của thành phần đến giá trị b*

3.5. Ảnh hưởng của thành phần đến giá trị ∆E

3.6. Ảnh hưởng của thành phần đến khả năng truyền qua của ánh sáng

3.7. Ảnh hưởng của thành phần ở vùng hồng ngoại

3.8. Ảnh hưởng của thành phần ở vùng khả kiến

3.9. Ảnh hưởng của thành phần ở vùng tử ngoại UV

3.10. Ảnh hưởng của thành phần đến khả năng thấm ẩm của màng

3.11. Phân tích kết quả quét nhiệt vi sai DSC

3.12. Phân tích kết quả đo phổ nhiễu xạ tia X

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về màng tinh bột

Màng tinh bột là một loại vật liệu polymer có khả năng phân hủy sinh học, được tạo ra từ tinh bột và gelatin. Thành phần tạo màng ảnh hưởng trực tiếp đến độ thấm ẩmtính chất quang học của màng. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ giữa các thành phần như tinh bột, gelatin, glycerol, acid acetic và curcumin có vai trò quan trọng trong việc xác định các đặc tính của màng. Việc sử dụng màng polymer từ tinh bột không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn mang lại những ứng dụng thiết thực trong ngành thực phẩm và bảo quản thực phẩm. Theo một nghiên cứu, tính chất quang học của màng tinh bột có thể được cải thiện bằng cách điều chỉnh tỷ lệ các thành phần, từ đó tạo ra các sản phẩm có màu sắc và độ trong suốt mong muốn.

1.1. Thành phần tạo màng

Thành phần tạo màng bao gồm tinh bột, gelatin, glycerol, acid acetic và curcumin. Mỗi thành phần đóng vai trò riêng biệt trong việc hình thành và cải thiện các tính chất của màng. Tinh bột là thành phần chính, quyết định đến độ thấm ẩmtính chất quang học. Gelatin giúp tăng cường độ bền và tính đàn hồi của màng. Glycerol được sử dụng như một chất dẻo, làm tăng khả năng thấm ẩm của màng. Acid acetic có tác dụng điều chỉnh pH, trong khi curcumin không chỉ tạo màu sắc mà còn có khả năng chống oxy hóa. Sự tương tác giữa các thành phần này tạo ra một màng có tính chất tối ưu cho ứng dụng trong thực phẩm.

II. Phân tích ảnh hưởng đến độ thấm ẩm

Độ thấm ẩm của màng tinh bột là một yếu tố quan trọng trong việc bảo quản thực phẩm. Nghiên cứu cho thấy rằng thành phần tạo màng có ảnh hưởng lớn đến khả năng thấm ẩm. Cụ thể, tỷ lệ giữa tinh bột và gelatin quyết định độ dày và cấu trúc của màng. Màng có tỷ lệ tinh bột cao thường có độ thấm ẩm thấp hơn, trong khi màng có tỷ lệ gelatin cao lại cho thấy độ thấm ẩm cao hơn. Điều này có thể giải thích bởi cấu trúc mạng lưới của gelatin giúp tạo ra các kênh dẫn ẩm. Kết quả từ phương pháp phân tích phương sai ANOVA cho thấy rằng glycerol và gelatin là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến độ thấm ẩm của màng. Việc tối ưu hóa tỷ lệ các thành phần này có thể giúp tạo ra màng với độ thấm ẩm phù hợp cho từng ứng dụng cụ thể.

2.1. Tác động của glycerol và gelatin

Glycerol và gelatin có tác động mạnh mẽ đến độ thấm ẩm của màng tinh bột. Glycerol, với tính chất dẻo, giúp làm giảm độ cứng của màng, từ đó tăng khả năng thấm ẩm. Ngược lại, gelatin tạo ra một mạng lưới liên kết chặt chẽ, làm giảm khả năng thấm ẩm. Nghiên cứu cho thấy rằng khi tăng tỷ lệ glycerol trong màng, độ thấm ẩm cũng tăng theo. Điều này cho thấy rằng việc điều chỉnh tỷ lệ glycerol và gelatin là cần thiết để đạt được độ thấm ẩm mong muốn cho các ứng dụng thực phẩm.

III. Tính chất quang học của màng

Tính chất quang học của màng tinh bột là một yếu tố quan trọng trong việc xác định khả năng bảo quản và thẩm mỹ của sản phẩm. Nghiên cứu cho thấy rằng thành phần tạo màng ảnh hưởng đến độ trong suốt và màu sắc của màng. Tinh bột có cấu trúc tinh thể, khi được sử dụng trong màng, có thể làm giảm độ truyền sáng. Kết quả phân tích cho thấy rằng curcumin là yếu tố chính ảnh hưởng đến màu sắc của màng. Màng có chứa curcumin cho thấy màu sắc hấp dẫn và có khả năng chống oxy hóa. Phân tích ANOVA cho thấy rằng tỷ lệ giữa các thành phần có thể điều chỉnh được độ trong suốt và màu sắc của màng, từ đó tạo ra các sản phẩm có tính chất quang học tốt hơn.

3.1. Ảnh hưởng của curcumin

Curcumin không chỉ tạo màu sắc cho màng mà còn có tác dụng chống oxy hóa. Nghiên cứu cho thấy rằng khi tăng tỷ lệ curcumin, màu sắc của màng trở nên đậm hơn, đồng thời khả năng truyền sáng cũng bị ảnh hưởng. Màng có chứa curcumin cho thấy độ trong suốt thấp hơn so với màng không có curcumin. Điều này cho thấy rằng curcumin có thể được sử dụng như một chất tạo màu tự nhiên trong sản xuất màng tinh bột, đồng thời cải thiện tính chất quang học của sản phẩm.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho các quá trình gia công, chế tạo cấc hợp chất polyme thiên nhiên và đi vào nghiên cứu các polyme nhân tạo.[1] Đến năm 1933, Gay Lussac tổng hợp được polyeste va polylactic khi đun nóng với axit lactic, Braconnot điều chế được trinitrocelluose bằng phương pháp chuyển hóa đồng dạng và J.Berzilius là người đưa ra khái niệm về polymer. Từ đó polymer đã chuyển sang thời kỳ tổng hợp bằng phương pháp hóa học thuần túy, đi sâu vào nghiên cứu những tính chất của polyme nhất là những polyme tự nhiên. Những công việc này phát triển mạnh vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trải qua 130 năm, đến năm 1925, Staudinger đã đưa ra kết luận về cấu trúc phân tử polymer, và cho rằng polymer có dạng sợi và lần đầu tiên dùng cụm danh từ “ cao phân tử”.

thuyết này mặc dù còn có một số nhược điểm nhưng đã được nhiều tác giả thừa nhận nên được dùng làm cơ sở cho đến ngày nay. Thành công của polymer là trùng hợp polymer ở trạng thái rắn có tính bền nhiệt cao, có tính dẫn điện, là cơ sở để hình thành nền công nghiệp sản xuất polymer bền nhiệt cao. Việc can thiệp vào quá trình tạo liên kết đôi dọc theo mạch chính của polymer, tạo liên kết sicma ,quá trình “doping” hay composite đã hình thành ngành công nghiệp sản xuất 1 do an các vật liệu polymer điện tử (electronics polymer ) với rất nhiều ứng dụng như: sản xuất các linh kiện điện tử, chip, tấm transparents, màn hình LCD, màn hình LEDs, cửa sổ thông minh… Bên cạnh đó việc tổng hợp các polymer có hoạt tính sinh học có tác dụng giải thích các quá trình sống, quá trình nên men, quá trình trao đổi chất trong tế bào cơ thể sống mà người ta goi nó là polymer sinh học (biopolymer).[1] Trong công nghiệp sản xuất vật liệu polymer cũng có những bước tiến lớn trong việc cải tiến các phương pháp gia công như phương pháp tổng hợp (compounding, blending), đúc (casting), gia công cơ học (rolling, laminating), tráng-phủ (coating)…làm cho thời gian đưa vào sản xuất những công trình nghiên cứu ngày một nhanh hơn. Với khả năng ứng dụng trong hầu hêt các ngành phụ vụ đời sống như: công nghệ cao su, chất dẻo, tơ sợi, thực phẩm, xây dựng, cơ khí, điện-điện tử, hành không, dược liệu, màu sắc và lĩnh vực quốc phòng như: tên lửa, tàu du hành vũ tru, máy bay siêu âm.

Vấn đề tái sinh polymer hay tiêu hủy polymer là một thách thức lớn cho các nhà khoa học và nghiên cứu công nghệ.2 Giới thiệu polymer có khả năng phân hủy từ tinh bột và cellulose Các polymer có khả năng phân hủy sinh học có chức năng giống như các thành phần của tế bào vi sinh vật. Vì vậy, để tạo ra được các loại nhựa hữu ích từ các polymer sinh học, chúng cần được biến tính. Nguồn nguyên liệu có khả năng tái tạo được biết nhiều nhất có khả năng tạo ra các nhựa có khả năng phân hủy sinh học là tinh bột và cellulose.[1] Tinh bột và cellulose không phải chất dẻo trong cấu trúc tự nhiên của chúng, nhưng khi được chuyển hóa thành chất dẻo bằng các phương pháp khác nhau bao gồm: phương pháp đùn, tạo các nhóm chức, và dẻo hóa. Tinh bột là một trong những nguồn vật liệu có khả năng phân hủy sinh học rẻ nhất trên thị trường thế giới hiện nay.

Nó là một polymer sinh học sinh học có tiềm năng lớn để sử dụng trong các ngành công nghiệp không phải thực phẩm. Các polymer trên cơ sở tinh bột có thể được chế tạo từ ngô, gạo, bột mì hoặc khoai tây. Tinh bột có thể chế tạo nhựa nhiệt rắn bằng cách phá vỡ hạt với sự có mặt của một lượng chất dẻo hóa phù hợp (ví dụ nước hoặc polyancol) trong điều kiện xác định để gia công bằng phương pháp đùn.[1] 2 do an Cellulose từ gỗ và cây bông là nguồn thay thế cho dầu mỏ để chế tạo nhựa cellulose. Cấu trúc của các este cellulose bao gồm cellulose acetat (CA, cellulose acetat propionat (CAP) và cellulose axetat butyrat (CAB).

CAB và CAP hiện nay đang được sử dụng trong sản xuất nhiều loại nhựa khác nhau. Ví dụ, tay cầm của các loại bàn chải đánh răng thượng hạng thường được sản xuất từ CAP, tay cầm của các tô vít thường được làm từ CAB. Hiện nay, nhựa cellulose đã đóng vai trò quan trọng trong các công thức chế tạo biocomposite. Tổng quan về tinh bột Tinh bột là polysaccharide có phân tử lượng lớn, được tạo nên từ hàng trăm tới hơn 1 triệu đơn phân glucose, chúng liên kết với nhau bằng các liên kết 𝛼-glucoside.[2] Trong thực vật, tinh bột được tổng hợp từ sự quang hợp của cây xanh trong lục lạp hay từ các bột lạp.

Phân tử tinh bột bao gồm 2 thành phần chính là amylose và amylopectin.1 Hình dạng, kích thước của hạt tinh bột Hình dạng của tinh bột trong tự nhiên rất đa dạng, phổ biến là các hình tròn, hình bầu dục hay hình đa giác.(a) Hạt tinh bột khoai tây (b) Hạt tinh bột gạo [1] Trong nguyên liệu, tinh bột tồn tại thành từng hạt có kích thước từ 0. Có nhiều cách khác nhau để ta có thể biết được kích thước của hạt tinh bột như dùng phương pháp lắng, sử dụng rây lọc. Thành phần hóa học của tinh bột Tinh bột không phải là một hợp chất đồng thể mà gồm 2 polysaccharide khác nhau: vùng vô định hình chủ yếu là amylose và vùng kết tinh chủ yếu là amylopectin. Tỷ lệ 3 do an hàm lượng của amylose và amylopectin giữa những nguyên liệu không giống nhau, thường tỷ lệ amylose và amylopectin của tinh bột xấp xỉ ¼.

1 Tỷ lệ amylose và amylopectin của một số loại tinh bột [1] Tinh bột Amylose (%) Amylopectin (%) Gạo sáp 0 100 Ngô với amylose cao 70 30 Ngô 28 72 Sắn 17 83 Lúa mì 26 74 Khoai tây ngọt 18 82 Bột hoàng tinh 21 79 Khoai tây 30 70 1. Cấu trúc của amylose Hình 1. 2 Cấu trúc của amylose [3] Amylose có cấu trúc chủ yếu là mạch thẳng, được kéo dài từ những đơn phân glucose do sự tác động của enzyme synthate (enzyme synthate là enzyme xúc tác sự bổ sung ADP-glucose) tạo thành chuỗi dài tới vài nghìn đơn phân glucose trong phân tử liên kết với nhau bằng liên kết 𝛼-1,4 glucoside, chúng tạo thành xoắn lò xo, mỗi xoắn có 6 gốc 4 do an glucose tạo thành hình lục giác. Đường kính của xoắn ốc là 12.97 A0, chiều cao của vòng xoắn là 7.

[6] Bên ngoài vòng xoắn là những nhóm OH tương tác với nhau giúp giữ vững cấu trúc xoắn, bên trong là nhóm CH kỵ nước giúp cho phân tử amylose dễ dàng hấp thụ các phân tử chất béo, iot vào trong cấu trúc xoắn.[2] Chính vì amylose ở dạng hơi xoắn nên khi tác dụng với iot, nó cuốn phân tử iot vào trong cấu trúc của nó tạo nên phức màu xanh, đây là phản ứng đặc trưng cho tinh bột, khi ở nhiệt độ cao, các vòng xoắn bị duỗi ra, giải phóng phân tử iot, phức mất màu. Trong phân tử amylose bao giờ cũng có 1 đầu nhóm hydroxyl có tính khử và 1 đầu không khử. Cấu trúc của amylopectin Hình 1. 3 Cấu trúc của amylopectin [3] Amylopectin được tạo thành từ các đơn phân glucose liên kết với nhau bằng liên kết 𝛼- 1,4 glucoside và 𝛼-1,6 glucoside, mức độ phân nhánh của amylopectin cao hơn nhiều so với amylose.[2] Trong phân tử, liên kết 𝛼-1,4 glucoside chiếm 95%, trong khi liên kết 𝛼-1,6 glucoside chiếm tới 5% -trung bình trong phân tử có khoảng 20000 điểm phân nhánh.

Khoảng cách giữa 2 điểm phân nhánh vào khoảng 20-30 gốc glucose, sự phân nhánh lớn này làm cho các phân tử cồng kềnh, khó cuộn xoắn, nên khi phản ứng với iot chỉ cho màu nâu. Tính chất của tinh bột 1. Tính hòa tan Tinh bột ở điều kiện thường không tan trong nước, vì vậy nó tồn tại lượng lớn trong tế bào mà không ảnh hưởng đến áp suất thẩm thấu. Amylose khi mới tách ra khỏi hạt tinh bột có khả năng hòa tan tốt trong nước.

Tuy nhiên, chúng nhanh chóng bị thoái hóa tạo 5 do an kết tủa. Amylopectin tan tốt trong nước ấm, trong nước lạnh chúng khó tan hơn. Khi phân tán trong môi trường cồn, tinh bột bị kết tủa, điều này giúp tăng hiệu suất thu hồi tinh bột. Khả năng trương nở Khi ngâm nước ở nhiệt độ thấp, hạt tinh bột không bị hydrat hóa nên không trương nở.

Khi tăng dần nhiệt độ lên, hạt tinh bột sẽ hút nước và tăng nhanh thể tích do tinh bột được cấu tạo từ các đơn phân glucose, chứa nhiều nhóm OH trong phân tử, có khả năng tạo liên kết hydro với các phân tử nước. Nước tương tác với các mạch polysaccharide tạo nên lớp vỏ hydrat dày, kích thước lớn làm hạt tinh bột bị trương nở. Quá trình trương nở làm amylose được tách ra, hòa tan 1 phần vào nước. Tinh bột trương nở nguyên nhân chính do các mạch amylopectin trong tinh bột.

Nhiệt độ hồ hóa Nhiệt độ hồ hóa không phải là là một điểm mà là một khoảng nhất định. Nhiệt độ hồ hóa của tinh bột được chia làm 3 nhóm: thấp (nhỏ hơn 700C), trung bình (từ 70-740C), cao (trên 740C). Độ trong của hồ tinh bột Độ trong của hồ tinh bột được thể hiện thông qua tỷ lệ ánh sáng ở bước sóng 650 nm truyền qua dịch hồ tinh bột 1%. Tỷ lệ này ở mỗi loại tinh bột là khác nhau, dựa vào thành phần và cấu trúc của chúng.

2 Tỷ lệ ánh sáng truyền qua của các dịch hồ tinh bột khác nhau. Khả năng tạo gel Tinh bột được hồ hóa để chuyển sang trạng thái hòa tan, ở nồng độ đậm đặc vừa phải và trạng thái tĩnh, tinh bột sẽ tạo gel. Gel tinh bột là tổng hợp gel mạch polysaccharide hoặc giữa các phân tử nước với nhau. Khả năng tạo gel của của các phân tử chứa nhiều amylose lớn hơn phân tử chứa nhiều amylopectin.

[1],[6] Độ cứng của gel tinh bột thường tăng theo nồng độ của tinh bột. Khi bảo quản càng lâu thì độ cứng của gel càng cao. Hiện tượng này được giải thích bởi sự mất nước của tinh bột do khả năng thoái hóa của chúng. Phản ứng tạo phức Phản ứng tạo phức của tinh bột chủ yếu là do mạch amylose.

Phân tử tinh bột chứa chứa mạch amylose tồn tại ở dạng xoắn, với mỗi vòng xoắn là 6 đơn vị glucose. Mạch này có khả năng tạo phức với nhiều hợp chất hữu cơ có cực cũng như vô cực bằng cách cuốn các phân tử đó vào trong trục rỗng của cuộn xoắn.[2] Khi tham gia phản ứng tạo phức với iot ở nhiệt độ thường, mỗi vòng xoắn sẽ cuốn lấy 1 phân tử iot và nhốt chúng trong đó, tạo nên phức màu xanh đặc trưng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phân Tích Ảnh Hưởng Thành Phần Tạo Màng Đến Độ Thấm Ẩm và Tính Chất Quang Học Của Màng Tinh Bột" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các thành phần tạo màng ảnh hưởng đến độ thấm ẩm và các đặc tính quang học của màng tinh bột. Tác giả đã phân tích các yếu tố như cấu trúc và tính chất của màng, từ đó đưa ra những kết luận quan trọng về ứng dụng của màng tinh bột trong ngành thực phẩm và bao bì. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tính chất vật lý của màng tinh bột mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới cho việc cải thiện chất lượng sản phẩm.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các ứng dụng và nghiên cứu liên quan đến công nghệ thực phẩm, hãy tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ công nghệ thực phẩm nâng cao hiệu suất trích ly dịch quả từ trái quách bằng phương pháp enzyme ứng dụng trong sản xuất thức uống limonia acidissima". Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ công nghệ thực phẩm nghiên cứu thu nhận bột cellulose từ lá dứa ananas comosus" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích về các nguyên liệu tự nhiên trong ngành thực phẩm. Cuối cùng, bạn có thể khám phá bài viết "Luận văn nghiên cứu tạo sản phẩm bánh dẻo gạo lức" để hiểu rõ hơn về các sản phẩm chế biến từ nguyên liệu thực phẩm. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và cái nhìn tổng quan về lĩnh vực công nghệ thực phẩm.