Chương 1: Tình hình nghiên cứu, cơ sơ lý luận và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Dia bàn nghiên cứu. Chương 3: Phân công lao động trong hộ gia đình trồng rau người Tày phuan. Chương 4: Phân công lao động trong hộ gia đình trồng rau người Hmông.
Chương 5: Phân công lao động trong các hộ gia đình trồng rau ở làng Lathkhoai, từ góc nhìn so sánh. TINH HÌNH NGHIÊN CUU, CO SO LY LUAN VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU 1. Tinh hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Phân công lao động hộ gia đình là một trong những khía cạnh đã được nghiên cứu nhiều trong lĩnh vực giới, gia đình và hôn nhân ở Việt Nam và trên thế giới. Theo Lavee và Katz (2002), có mối liên hệ chặt chẽ giữa các quan điểm giới và phân công lao động trong hộ gia đình.
Hầu hết các quan điểm giới trên thế giới đều thuộc một trong hai trường phái như: truyền thống hay tiến bộ. Quan điểm giới phái truyền thống cho rằng vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình không bình đăng như nhau. Nam giới thường giữ vai trò là người ra quyết định và trụ cột gia đình trong khi phụ nữ giữ vai trò làm người mẹ và nội trợ. Ngược lại, quan điểm giới tiến bộ lại ghi nhận vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình là ngang bằng nhau.
Do vậy, việc nghiên cứu quan điểm và hành vi của phụ nữ và nam giới trong phân chia lao động hộ gia đình có thê giúp nhận diện quan điểm giới trong một xã hội nhất định. Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng lâu đời của Nho giáo. Tư tưởng đó áp đặt phụ nữ và nam giới ở hai vị trí đối ngược nhau, trong đó nam giới được ưu tiên và được coi là “phái mạnh”, có địa vị và quyền lực trong gia đình. Do đó, nam giới thường được giao những trọng trách quan trọng như kiếm tiền và đưa ra quyết định.
Ngược lại, Nho giáo cho rằng phụ nữ là “phái yếu” và cần được “phái mạnh” bảo vệ. Vì vậy, họ chỉ đóng vai trò hỗ trợ chồng và chăm sóc con cái. Chính vì vậy mà từ trước tới nay, việc phân chia lao động trong hộ gia đình ở Việt Nam chủ yếu là được dựa trên quan điểm vai trò giới và quan điểm này chủ yếu được hình thành và duy trì bởi Nho giáo. Tuy nhiên, do những tác động của toàn cầu hóa và phát triển kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam, văn hóa tiêu dùng, tư tưởng bình quyền của nước phương tây, các phong trào thúc đây quyền và giải phóng phụ nữ cũng như các phong trào tăng quyền năng kinh tế cho phụ nữ, Nho giáo có khả năng bị giảm tầm ảnh hưởng.
Chính vi vậy, cần tiến hành nghiên cứu dé xem xét liệu có bất kỳ sự thay đổi nào về quan niệm vai trò giới trong phân chia lao động gia đình ở Việt Nam đương đại hay không? Ở Việt Nam, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu về van đề giới, đặc biệt hơn là sự phân công lao động theo giới là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả trong những năm gần đây, nhất là đưới góc độ xã hội học. Bắt đầu từ nghiên cứu với chủ đề: Địa vị phụ nữ ngư dân ở một số làng đánh cá miền Trung của Mai Huy Bích (1999). Và chủ đề này đề cập đến thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong sản xuất của ngư dân ở một số làng đánh cá miền Trung. Từ đó, chỉ sự khác biệt thậm chí là mâu thuẫn từ góc độ giới trong công việc giữa vợ và chồng.
Tìm hiểu những vấn đề phân công lao động theo giới của gia đình trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, với đề tài Điều tra gia đình Việt Nam (2006) cho thấy, nhiều người dân vẫn coi sự phân công lao động giữa hai giới là cần thiết, đặc biệt là ở các công việc như sản xuất, kinh doanh, nội trợ, chăm sóc người giả. Trong đó, phụ nữ phù hợp hơn với các công việc như: nội trợ, giữ tiền, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người già, người ốm đau. Còn nam giới thì phù hợp hơn với các công việc sản xuất, kinh doanh, tiếp khách lạ và thay mặt gia đình giao tiếp với chính quyền. Một nghiên cứu khác là, về phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyên đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản của tác giả Nguyễn Thị Hồng Yến (2016).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản có những sự khác biệt nhau. Quá trình chuyên đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản đã làm thay đổi mối quan hệ giới cả trong sản xuất lẫn công việc gia đình. Nhìn chung, sau khi chuyền đổi, phân công lao động giữa vợ và chồng các vai trò như: sản xuất, tái sản xuất, công việc cộng đồng đã làm thay đổi cách nhìn nhận về vị thế của người phụ nữ. Trong quá trình sản xuất muối người phụ nữ đảm nhiệm vai trò chính trong sản xuất, thời gian và tần xuất lao động nhiều hơn đàn ông.
Dưới góc độ một số nhận xét bước đầu về phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình Bắc trung bộ của tác giả Nguyễn Hữu Minh (2016). Kết quả phân tích cho thấy sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình của 6 địa phương ở Nghệ An và Hà Tĩnh không khác biệt nhiều với khuôn mẫu chung ở điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, người vợ chịu trách nhiệm chủ yếu đối với các công việc như: nội trợ, việc chăm sóc con cái hay chăm sóc người gia, người ôm, nam giới 9 làm nhiều hơn đối với công việc tiếp khác, việc họ tộc hay việc sửa chữa đồ dùng trong nhà. Một điểm khác biệt với số liệu chung của quốc gia là tỷ lệ người phụ nữ chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc đi họp hay giao dịch với bên ngoài tại các địa bàn khảo sát là cao hơn đáng kể so với tỷ lệ chung. Khía cạnh khác nhau như phân công lao động trong gia đình ở Đồng bằng sông Cửu Long, từ góc nhìn giới của tác giả Trần Hạnh Minh Phương (2016).
Trong nghiên cứu có đề cập đến sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình, trong những công việc tạo ra thu nhập. Tuy nhiên, nghiên cứu này phát hiện van đề mới đó là, cũng có một số trường hợp người chồng tạm thời chưa có việc làm, trong khi người vợ đi làm, người chồng sẽ làm công việc trong nhà. Hay cả hai vợ chồng đều đi làm, người chồng buộc phải chia sẻ công việc nhà với vợ dé đảm bao sức khỏe cho người vợ tiếp tục lao động tạo ra thu nhập của gia đình. Còn ở Lao, vấn đề giới cũng thu hút sự quan tâm của xã hội, nhưng rất hiếm các bài nghiên cứu về phân công lao động giới.
Trong những năm gần đây có một bài nghiên cứu của tác giả Bun Phết Vàng (2014) về Thực trạng phân công lao động giữa vợ và chong trong gia đình (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Vang Viêng, tinh Viêng Chăn, Lào. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc du quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa có những tác động to lớn đến cấu trúc phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình ở huyện Văng Viêng, tỉnh Viêng Chăn Lào nhưng những vấn đề phân công lao động giới theo truyền thống với sự áp đảo của nam giới so với nữ giới vẫn tồn tại tương đối phô biến. Mối quan hệ phân công lao động theo giới đã có xu hướng binh dang hơn so với trước va có sự thay đổi từ một trụ cột sang hai trụ cột của gia đình. Tuy nhiên, sự thay đổi như vậy van chưa đủ mạnh dé chiếm xu thé áp đảo.
Phan lớn tính bình đăng giới trong các mối quan hệ phân công lao động trong gia đình mới chỉ tồn tại đưới dạng mong đợi của người trả lời cho cuộc sống tương lai, chứ chưa phải là sự phân công lao động thực tế tồn tại. Một dự án hợp tác giữa Viện Nghiên cứu văn hóa và Hiệp hội Phát triển vai trò phụ nữ năm 2017, đã nghiên cứu đề tài về cuộc sống của phụ nữ dân tộc với việc thực hiện sự phát triển bền vững. Dự án này đã tập trung nghiên cứu tại 3 tỉnh gồm: tỉnh Luéng-pha-bang (huyện Năm-bak, làng Tha-li-tay, bản Thoong- thơng. đây là 2 làng có dân tộc Kho Mú; làng Phà-luống có dân tộc Hmong); Tinh Khum- 10 muôồn(huyện Na-cai làng Sốp-hịa có nhiều dân tộc cùng sinh sống, làng Sốp-ma có dân tộc Mạ-coong và làng Thong có dân tộc Men); tỉnh Xê-coong (huyện La-mam làng Cạ-xăng-cang có dân tộc A-lắc,làng Bèng có dân tộc Cạ-tu, làng Xê-nọi có dân tộc Triang).
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, tín ngưỡng văn hóa của mỗi dân tộc còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững, trong đó phong tục tập quán coi trọng người đàn ông, có vai trò là chủ gia đình, là người có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động xã hội và có quyền quyết định các van dé của gia đình. Ngoài ra, người dân tộc Men và Hmong còn xác định người đàn ông là người thừa kế của dòng tộc nên người đàn ông có thé lấy vợ tiếp theo nếu người vợ đầu không sinh được con trai. Người phụ nữ được phân công đảm nhiệm công việc gia đình, chăm sóc con cái và tuân theo sự hướng dẫn của người chồng. Mặc dù từ trước đến nay, việc phụ nữ đã tham gia đóng góp vào nhiều công việc khác nhau và được bảo vệ quyền lợi của minh từ gia đình và xã hội, điều này khiến phụ nữ tham gia tích cực quá trình phát trién bền vững cũng như phát triển cuộc sống của bản thân được tốt hơn, nhưng điều này cũng làm gia tăng gánh nặng trách nhiệm cho phụ nữ.
Vì khi phụ nữ đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau thì đàn ông lại lơ là đóng góp vào công việc gia đình. Như vậy chúng ta có thê thấy rằng phân công lao động theo giới không phải là vẫn dé mới đối với những nhà nghiên cứu xã hội học của Việt Nam cũng như thé giới. Nhưng đối với Lào nó vẫn còn là một vấn đề mới mẻ và ít được đề cập đến. Đặc biệt là sự phân công lao động hộ gia đình nông nghiệp ở Lào.
Cơ sở lý luận Việc phân công lao động giữa các thành viên trong gia đình đã được phát hiện từ rất sớm trong xã hội loài người.