CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 1. Khái niệm, đặc điểm phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Để làm rõ nội hàm khái niệm, đặc điểm phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn cần thiết phải làm rõ một số khái niệm có liên quan: Tài sản chung của vợ chồng là gì? Hiện nay, trong khoa học pháp lý tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về tài sản, tuỳ thuộc vào góc độ và mục đích tiếp cận mà tài sản được định nghĩa và quy định. Theo quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản”.
Theo Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam số 12: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng. Khi phân loại tài sản theo chu kỳ sản xuất, ta có tài sản cố định và tài sản lưu động. Còn khi phân loại tài sản theo đặc tính cấu tạo của vật chất, ta có tài sản hữu hình và tài sản vô hình”.
Như vậy, từ những định nghĩa trên có thể thấy rằng: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và những của cải vật chất có giá trị trong việc sản xuất hoặc tiêu dùng”. Trên cơ sở đó, tài sản của vợ chồng là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng, là hình thức sở hữu chung đặc biệt. Tài sản chung vợ chồng là những tài sản được hình thành hoặc tạo ra phù hợp với những căn cứ xác lập tài sản chung vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ và các quy định của pháp luật có liên quan khác. Việt Nam có câu tục ngữ “của chồng công vợ”, nên tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết do hai vợ chồng trực tiếp tạo ra hoặc tạo ra ngang bằng nhau.
Song, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung (ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung). Tài sản chung của vợ và chồng chỉ được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các 6 nghĩa vụ chung của vợ, chồng. Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng cần phải được sự đồng ý của cả vợ và chồng. Những tài sản có giá trị lớn (theo qui định của pháp luật) thì sự đồng ý này phải được thể hiện bằng văn bản.
Còn những tài sản khác thì khi vợ (hoặc chồng) xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình thì đương nhiên được hiểu là đã được sự đồng ý của người kia. Theo quy định tại Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 thì tài sản chung của vợ chồng được quy định: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.” Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung đó, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và và những của cải vật chất có giá trị trong việc sản xuất hoặc tiêu dùng. Tài sản chung của vợ chồng có thể bao gồm bất động sản và động sản.
Vợ, chồng với tư cách là chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình và cũng là chủ thể của sử dụng tài sản chung vợ chồng khi tham gia quan hệ dân sự. Như vậy, để xác định tài sản chung của vợ chồng theo luật định thì căn cứ vào các yếu tố sau: 7 Một là, thời kỳ hôn nhân – căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng Theo quy định trên ta thấy, căn cứ quan trọng nhất khi xác định tài sản là tài sản chung của vợ chồng hay không là sự ra đời và tồn tại quan hệ vợ chồng - thời kỳ hôn nhân. “Thời kỳ hôn nhân” là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân [36, khoản 13, Điều 3]. Như vậy, thời kỳ hôn nhân được tính kể từ khi hai bên nam, nữ đăng ký kết hôn - thời điểm phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật; việc đăng ký kết hôn phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo đúng thủ tục và các điều kiện luật định.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Luật HN&GĐ năm 2014 thì các quan hệ HN&GĐ xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về HN&GĐ tại thời điểm xác lập để giải quyết. Quy định này nhằm để giải quyết hậu quả còn tồn đọng do tình trạng “hôn nhân thực tế” trong xã hội trước khi có Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014. Để xác định khoảng thời gian tồn tại của thời kỳ hôn nhân thì việc kết hôn giữa nam và nữ phải đáp ứng các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Thực tế có nhiều vợ chồng sống chung nhưng không đăng ký kết hôn, khi phát sinh mâu thuẫn họ có xin ly hôn và phân chia tài sản.
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chỉ công nhận trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987, đối với trường hợp này thì dù họ đăng ký kết hôn hay không đăng ký kết hôn thì thời kỳ hôn nhân của họ vẫn được tính từ thời điểm họ chung sống với nhau. Đối với trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng sau ngày 03/01/1987 đến trước ngày Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực, có đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH 10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội và Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì họ có nghĩa vụ đi đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003. Nếu hết thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn thì không được coi là vợ chồng nên khi có yêu cầu Tòa án không giải quyết việc ly hôn và chia tài sản chung vợ chồng. 8 Vậy, căn cứ để xác lập tài sản chung của vợ chồng, trước hết phải dựa trên cơ sở “thời kỳ hôn nhân” của vợ chồng.
Toàn bộ tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân này được coi thuộc khối tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp vợ chồng thực hiện phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Điều 40 Luật HN&GĐ năm 2014 hoặc có thỏa thuận tài sản của vợ chồng mà quy định khác. Hai là, dựa vào nguồn gốc tài sản Tất cả những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chủ yếu, cơ bản nhất trong khối tài sản chung của vợ chồng. Tài sản này có thể do vợ hoặc chồng trực tiếp tạo ra thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể như nhà cửa, vật dụng trong gia đình…hoặc gián tiếp làm ra dựa trên công việc, năng lực. Trên thực tế, thu nhập chủ yếu của các cặp vợ chồng thường là tiền lương, tiền công lao động, những thu nhập và tài sản do vợ chồng làm kinh tế gia đình hoặc lợi nhuận thông qua việc sản xuất, kinh doanh.
Trong xã hội ngày nay, lao động vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân. Chính vì vậy, vợ, chồng có thể tự do tham gia lao động, sản xuất kinh doanh để tạo ra tài sản, nhưng đó phải là những lao động hợp pháp. Nhà nước luôn khuyến khích, tạo điều kiện cho các cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, kinh doanh. Bởi nó một mặt vừa mang lại tài sản để duy trì ổn định và phát triển gia đình, mặt khác góp phần làm giàu cho xã hội.
Thu nhập của vợ chồng gồm nhiều loại, nhưng thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh là loại thu nhập ổn định, cơ bản và chủ yếu. Bên cạnh đó, các thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân như: tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2014. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là thu nhập quan trọng của vợ chồng, nhằm duy trì đời sống chung của gia đình nên pháp luật quy định đây là tài sản chung của vợ chồng.
9 Ngoài ra, những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung cũng được xem là tài sản chung của vợ chồng. Đây là tài sản có tính chất đặc thù trong khối tài sản chung vợ chồng, bởi tài sản này hình thành trên cơ sở ý chí định đoạt của người khác và phải tuân theo quy định của pháp luật thừa kế và pháp luật về tặng cho tài sản. Vợ chồng có thể được tặng cho hoặc được thừa kế chung trong thời kỳ hôn nhân, những tài sản này đương nhiên thuộc khối tài sản chung vợ chồng nếu hợp đồng tặng cho hoặc di chúc nêu rõ tặng cho chung, thừa kế chung cho vợ, chồng.