Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật — Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" do sinh viên Nguyễn Cẩm Tú (Mã sinh viên: 452248) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Đình Nghị tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024). Đề tài thuộc chuyên ngành Luật học, tập trung vào lĩnh vực pháp luật dân sự thực định và thực tiễn giải quyết tranh chấp tư pháp.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng quan hệ thừa kế là một tất yếu khách quan của đời sống dân sự nhằm dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống. Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu và giá trị di sản thừa kế có sự biến chuyển sâu sắc: không chỉ dừng lại ở các tài sản tiêu dùng, sinh hoạt thông thường mà mở rộng sang quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, vốn góp đầu tư, cổ phiếu, trang trại và doanh nghiệp. Đặc biệt, tình trạng biến động giá đất ("cơn sốt đất") tại các tỉnh khu vực phía Bắc kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của các vụ kiện chia thừa kế tại Tòa án nhân dân cấp huyện và tỉnh. Cùng với đó, việc Bộ luật Dân sự năm 2015 nới rộng thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế đối với bất động sản lên 30 năm (so với thời hiệu 10 năm theo Bộ luật Dân sự năm 2005) đã khiến nhiều tranh chấp tồn đọng trước đây được thụ lý lại, dẫn đến tình trạng quá tải và kéo dài trong xét xử.
Văn bản xác định mục đích nghiên cứu và hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận, nội hàm của chế định thừa kế theo pháp luật; phân tích các quy định hiện hành của Bộ luật Dân sự năm 2015 về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật, chỉ ra những điểm bất cập, mâu thuẫn giữa quy định pháp luật với thực tiễn xét xử; từ đó đề xuất các định hướng hoàn thiện khung pháp lý và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Một là: Xây dựng khái niệm, hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.
- Hai là: Phân tích thực trạng quy định pháp luật thực định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, có đối chiếu, so sánh với các văn bản pháp luật trước đây (Bộ luật Dân sự năm 1995, năm 2005, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990) và các luật chuyên ngành liên quan (Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Đất đai năm 2013).
- Ba là: Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật, đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế tại hệ thống Tòa án nhân dân trong giai đoạn 2020 – 2023; xác định hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp lập pháp, áp dụng pháp luật cụ thể.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phân chia di sản thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và thực tiễn xét xử loại tranh chấp này tại Tòa án nhân dân các cấp. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các quy định về thừa kế theo pháp luật trong nội luật Việt Nam, không đi sâu nghiên cứu quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài; thời gian khảo sát thực tiễn xét xử tập trung từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2023.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận và pháp lý, nghiên cứu vận dụng các quan điểm lập hiến và văn bản luật thực định của Nhà nước Việt Nam:
- Cơ sở hiến định: Điều 32 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ.
- Khung pháp luật thực định: Trọng tâm là Chương XXIII (từ Điều 649 đến Điều 655) cùng các điều khoản chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 611 về thời điểm, địa điểm mở thừa kế; Điều 612 về di sản; Điều 613 về người thừa kế; Điều 621 về người không có quyền hưởng di sản; Điều 644 về người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc; Điều 658 về thứ tự ưu tiên thanh toán; Điều 659 và Điều 660 về phân chia di sản; Điều 662 về phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc bị bác bỏ quyền). Đồng thời, tác giả kết nối với các quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Luật Đất đai năm 2013.
- Học thuyết và quan niệm: Tác giả viện dẫn các cơ sở triết học phương Đông (quan hệ gia đình ngũ luân của Khổng Tử: Quân - Thân, Phụ - Tử, Phu - Phụ, Huynh - Đệ, Bằng - Hữu và đạo lý Hiếu - Nghĩa truyền thống) cùng quan niệm pháp lý phương Tây về bản chất của hoạt động phân chia tài sản nhằm chấm dứt tình trạng đồng sở hữu.
Khóa luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật để mổ xẻ cấu trúc quy phạm và ngữ nghĩa điều luật.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu lịch sử lập pháp qua các thời kỳ (Pháp lệnh năm 1990, Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và 2015).
- Phương pháp thống kê, tổng hợp dữ liệu từ Báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân Tối cao trình Quốc hội.
- Phương pháp nghiên cứu án lệ/nghiên cứu trường hợp (case study) thông qua phân tích mẫu 200 bản án sơ thẩm, phúc thẩm công bố trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao và phân tích chi tiết Bản án số 338/2020/DS-PT ngày 21/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, nguyên tắc và phân biệt các chế định cơ bản:
- Khái niệm: Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật là tập hợp các hoạt động pháp lý nhằm xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản cho từng đồng thừa kế, chấm dứt tình trạng sở hữu chung của nhiều người đối với khối tài sản do người chết để lại. Việc phân chia chỉ đặt ra khi có từ hai người thừa kế trở lên.
- Xác định khối di sản: Di sản được tính toán dựa trên công thức:
$$\text{Di sản phân chia} = \text{Tổng khối di sản} - (\text{Nghĩa vụ tài sản người chết để lại} + \text{Các chi phí khác})$$
Các chi phí khác gồm chi phí mai táng, tiền công quản lý di sản, chi phí bảo quản (không xem là nghĩa vụ tài sản của người chết). Nếu di sản nhỏ hơn hoặc bằng tổng nghĩa vụ và chi phí, quan hệ phân chia di sản sẽ không phát sinh mà ưu tiên thanh toán nghĩa vụ theo Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Nguyên tắc phân chia: (1) Ưu tiên chia trước và chia hết cho những người ở hàng thừa kế trước theo Khoản 3 Điều 651; (2) Chia đều cho những người thừa kế cùng hàng theo Khoản 2 Điều 651, không phân biệt giới tính, độ tuổi hay mức độ năng lực hành vi dân sự.
- Phân biệt với thừa kế theo di chúc: Điểm giống nhau nằm ở thời điểm mở thừa kế (Điều 611), điều kiện người thừa kế (Điều 613) và đối tượng bị truất quyền hưởng (Điều 621). Điểm khác biệt căn bản: thừa kế theo di chúc thể hiện ý chí chủ quan và quyền tự định đoạt của người để lại di sản; trong khi thừa kế theo pháp luật dựa trên ý chí phỏng đoán của Nhà nước về việc chuyển dịch tài sản cho những người thân thiết nhất theo ba mối quan hệ: huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật tại Việt Nam
Tác giả phân tích chi tiết các quy định thực định và chỉ ra 8 nhóm vướng mắc:
- Hàng thừa kế và phương thức chia: Ba hàng thừa kế theo Điều 651; phương thức phân chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị theo Điều 659 và Điều 660. Công thức tính một suất thừa kế: Tổng di sản chia / Tổng số người hưởng thừa kế.
- Các trường hợp đặc thù: Thừa kế thế vị của cháu/chắt (Điều 652); quyền thừa kế của vợ chồng khi đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với người khác (Điều 655); quyền lợi của thai nhi (Điều 613, Điều 660) và hoàn trả tài sản của người bị bác bỏ quyền thừa kế (Điều 662).
- Hạn chế, bất cập pháp lý được chỉ ra:
- Quy định về thừa kế thế vị (Điều 652): Do điều luật dùng cụm từ "hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống", nên nếu cha mẹ có hành vi vi phạm nghiêm trọng bị tước quyền hưởng di sản theo Khoản 1 Điều 621 thì dẫn đến việc cháu, chắt cũng mất quyền thừa kế thế vị.
- Quan hệ thừa kế của con nuôi (Điều 653): Điều luật chưa giải quyết rõ trường hợp con nuôi của con đẻ, con đẻ của con nuôi và con nuôi của con nuôi có được thế vị hay không; tiêu đề điều luật nhắc đến "cha đẻ, mẹ đẻ" nhưng nội dung không có điều khoản tương ứng.
- Con riêng và bố dượng, mẹ kế (Điều 654): Tiêu chí "có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con" mang nặng tính định tính, chưa có định lượng về thời gian, tính chất một chiều hay hai chiều; chưa quy định rõ con riêng/bố dượng mẹ kế xếp vào hàng thừa kế thứ mấy theo Điều 651.
- Tính định tính tại Điều 621: Các căn cứ tước quyền thừa kế như "vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng" hoặc "ngăn cản lập di chúc" thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể.
- Tư cách thừa kế giữa con nuôi với ông bà nuôi: Chưa có quy định thừa nhận con nuôi là người thừa kế hàng thứ hai hoặc hưởng thế vị từ cha mẹ của cha mẹ nuôi.
- Sự phát triển của y học hỗ trợ sinh sản: Điều 613 quy định người thừa kế phải "đã thành thai trước khi người để lại di sản chết", tạo rào cản pháp lý với trẻ sinh ra từ phôi/tinh trùng lưu trữ đông lạnh được thụ tinh sau khi người cha chết.
- Tiêu chuẩn "còn sống" khi sinh ra: Mâu thuẫn giữa Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2015 (quy định mốc sống từ 24 giờ trở lên mới phải khai sinh/khai tử) với việc xác định tư cách người thừa kế theo Điều 613.
- Con ngoài giá thú: Thiếu cơ chế chế tài bắt buộc cung cấp mẫu sinh học khi các đồng thừa kế từ chối giám định ADN để xác định quan hệ huyết thống.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật và một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện
Chương này đánh giá số liệu thực tiễn và đưa ra các kiến nghị cải cách:
- Dữ liệu tranh chấp tại TAND cấp huyện và tỉnh (2020 – 2023): Thống kê số lượng thụ lý và kết quả giải quyết cho thấy tranh chấp thừa kế luôn chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu án dân sự.
| Chỉ số thống kê (2020 – 2023) |
Án dân sự chung |
Án tranh chấp thừa kế |
Tỷ lệ (%) |
| Tổng số vụ việc phải giải quyết |
584.075 |
24.987 |
4,3% |
| Số vụ việc cũ còn lại chuyển sang |
52.852 |
4.111 |
7,8% |
| Số vụ việc mới thụ lý |
500.666 |
18.884 |
3,8% |
| Số vụ việc chuyển hồ sơ |
24.054 |
1.829 |
7,6% |
| Số vụ việc nhập vụ án |
6.503 |
163 |
2,5% |
| Kết quả giải quyết (2020 – 2023) |
Án dân sự chung |
Án tranh chấp thừa kế |
Tỷ lệ (%) |
| Tổng số vụ việc đã giải quyết |
420.822 |
13.802 |
3,2% |
| Số vụ đình chỉ giải quyết |
176.549 |
6.057 |
3,4% |
| Số vụ công nhận thỏa thuận đương sự |
110.682 |
1.990 |
1,8% |
| Số vụ đưa ra xét xử/giải quyết |
142.591 |
5.755 |
4,0% |
- Khảo cứu mẫu án: Tác giả phân tích 200 bản án trên Cổng thông tin TAND Tối cao: có tới ~95% số vụ liên quan trực tiếp đến chia thừa kế theo pháp luật (trong đó chỉ 2% thuần túy yêu cầu công nhận hiệu lực di chúc không phát sinh chia theo pháp luật, 3% có di chúc nhưng bị vô hiệu một phần hoặc phát sinh tranh chấp chia theo pháp luật phần còn lại).
- Thực tiễn phân chia quyền sử dụng đất: Đặc thù quyền sử dụng đất đòi hỏi áp dụng kết hợp Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013, phải có giấy tờ hợp pháp được Nhà nước công nhận và bắt buộc đăng ký biến động. Tác giả dẫn chứng Bản án số 338/2020/DS-PT ngày 21/8/2020 của TAND thành phố Hà Nội về việc chia thừa kế thửa đất và giá trị $20\text{ m}^2$ đất dịch vụ của cụ H2 và cụ N để lại cho 7 người con.
- Hệ thống kiến nghị: Đề xuất sửa đổi câu chữ Điều 652, Điều 653, Điều 654; ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn cụ thể tiêu chí "vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng", thủ tục trưng cầu giám định ADN đối với con ngoài giá thú và địa vị pháp lý của trẻ sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo sau thời điểm người cha qua đời.
Kết quả và đóng góp của khóa luận
-
Kết quả nghiên cứu thực chứng:
- Khóa luận đã hệ thống hóa được bức tranh toàn cảnh về thực tiễn xét xử tranh chấp thừa kế giai đoạn 2020 – 2023 với dữ liệu chính thức từ 24.987 vụ việc phải giải quyết và 13.802 vụ việc đã giải quyết tại TAND hai cấp, chứng minh tỷ lệ đình chỉ vụ án chiếm tỷ trọng cao nhất ($6.057/13.802$ vụ, tương đương 43,88% số vụ thừa kế được xử lý).
- Qua khảo sát 200 bản án thực tế, khóa luận lượng hóa được tỷ lệ tranh chấp chia thừa kế theo pháp luật chiếm vị trí áp đảo (khoảng 95%), bác bỏ giả định cho rằng tranh chấp di chúc chiếm tỷ lệ chi phối.
-
Đóng góp về mặt lý luận và lập pháp:
- Chỉ ra sự thiếu tương thích giữa quy định nội dung và tiêu đề của Điều 653 Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến cụm từ "cha đẻ, mẹ đẻ".
- Phân tích ranh giới bất cập của quy định thừa kế thế vị tại Điều 652 khi vô tình tước đoạt quyền lợi độc lập của cháu/chắt do lỗi chủ quan của thế hệ cha mẹ theo Khoản 1 Điều 621.
- Luận giải sự lạc hậu của Điều 613 trước các thành tựu của y học hiện đại về hỗ trợ sinh sản và trữ đông phôi/tinh trùng.
-
Giải pháp thực tiễn tác giả đề xuất:
- Kiến nghị cơ chế tố tụng dân sự cho phép Tòa án ra quyết định bắt buộc thu thập mẫu sinh học để giám định ADN khi có yêu cầu chính đáng xác định cha mẹ cho con ngoài giá thú.
- Đề xuất bổ sung thứ bậc rõ ràng cho quan hệ giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế vào hệ thống hàng thừa kế tại Điều 651 nhằm chấm dứt tình trạng thẩm phán phải phán quyết dựa trên cảm tính chủ quan.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Khóa luận tự xác định một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu các quan hệ thừa kế theo pháp luật thuần túy nội địa, không đề cập đến quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài (vốn có sự xung đột pháp luật về thẩm quyền tài phán và luật áp dụng đối với di sản là bất động sản hoặc động sản ở nước ngoài).
- Nguồn số liệu bản án khảo sát thực tế dừng lại ở dung lượng mẫu 200 bản án công bố trên Cổng thông tin điện tử, chưa thể bao quát toàn bộ các vùng tập quán địa phương đặc thù trên cả nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo hộ quyền thừa kế của trẻ em sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản sau thời điểm mở thừa kế theo hướng tiếp thu pháp luật so sánh quốc tế; đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về phân chia di sản thừa kế là tài sản số, tài sản vô hình và cổ phần trong doanh nghiệp phức hợp.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn dữ liệu chuyên khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp khi làm tiểu luận, khóa luận, luận văn về Chế định thừa kế trong Luật Dân sự Việt Nam.
- Người nghiên cứu và làm đề tài tương tự: Khai thác hệ thống bảng biểu số liệu thống kê tư pháp giai đoạn 2020 – 2023 từ Tòa án nhân dân Tối cao và các luận giải chi tiết về kỹ thuật lập pháp tại Chương XXIII Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Cán bộ áp dụng pháp luật (Luật sư, Thẩm phán, Công chứng viên): Phần phân tích về thừa kế quyền sử dụng đất gắn với Luật Đất đai năm 2013 và các trường hợp bỏ sót người thừa kế dẫn đến hủy án là nguồn đối chiếu hữu ích trong thực tiễn giải quyết tranh chấp và công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao con của người để lại di sản chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu vẫn được hưởng thừa kế thế vị?
Theo phân tích tại Chương 2 của khóa luận, Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 1995 từng quy định nếu những người có quyền thừa kế chết cùng thời điểm thì không được thừa kế di sản của nhau, dẫn đến nghịch lý cháu đích tôn không được thừa kế di sản của ông nội khi cha và ông cùng chết trong một vụ tai nạn. Khắc phục hạn chế này, Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung trường hợp: con chết "cùng một thời điểm" với người để lại di sản thì cháu vẫn được hưởng thừa kế thế vị phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống.
2. Số liệu thống kê của TAND Tối cao giai đoạn 2020 – 2023 cho thấy loại kết quả giải quyết án thừa kế nào chiếm tỷ lệ cao nhất?
Căn cứ Bảng số liệu 3.2 trích xuất từ Báo cáo của TAND Tối cao trong khóa luận, trong tổng số 13.802 vụ án tranh chấp thừa kế được giải quyết ở cấp sơ thẩm, số vụ việc bị đình chỉ chiếm tỷ lệ cao nhất với 6.057 vụ (đạt 43,88%), vượt qua số vụ án đưa ra xét xử (5.755 vụ, chiếm 41,70%) và số vụ công nhận sự thỏa thuận của đương sự (1.990 vụ, chiếm 14,42%).
3. Vợ hoặc chồng đã chia tài sản chung hoặc đang xin ly hôn mà một bên chết thì có được hưởng thừa kế của nhau không?
Theo Điều 655 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 được khóa luận dẫn chiếu, hôn nhân chỉ chấm dứt khi có bản án/quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc một bên chết. Do đó, việc vợ chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại, hoặc đang xin ly hôn (kể cả đã có bản án sơ thẩm nhưng đang bị kháng cáo chưa có hiệu lực) mà một bên chết thì bên còn sống vẫn được thừa kế di sản theo pháp luật.
4. Tại sao người sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo sau khi người cha chết lại gặp rào cản về quyền thừa kế?
Khóa luận chỉ ra rằng Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người thừa kế là cá nhân phải "còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết". Với trường hợp thụ tinh sau khi người cha đã mất (từ tinh trùng lưu trữ), đứa trẻ thành thai sau thời điểm mở thừa kế nên theo câu chữ hiện hành của luật sẽ không đủ điều kiện trở thành người thừa kế theo pháp luật của người cha.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Cẩm Tú đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật trên cơ sở Bộ luật Dân sự năm 2015. Thông qua các dữ liệu xét xử thực tế giai đoạn 2020 – 2023 của hệ thống Tòa án nhân dân, công trình đã làm sáng tỏ 8 nhóm vướng mắc pháp lý điển hình từ kỹ thuật lập pháp đến áp dụng điều luật trong đời sống. Đây là một công trình nghiên cứu học thuật nghiêm túc, cung cấp các luận cứ khoa học xác đáng phục vụ công tác hoàn thiện pháp luật dân sự và định hướng xét xử các tranh chấp thừa kế tại Việt Nam.