Chương 1, điều gì và tại sao, cung cấp cách nhìn tổng thể, lý giải bản chất của phân cấp trên nhiều phương diện khác nhau và trình bày lý do tại sao phải phân cấp. Thuật ngữ “Decentralization” được dịch sang tiếng Việt là phân cấp và được hiểu là sự chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ trung ương đến CQĐP hoặc các tổ chức thuộc khu vực tư nhân. Như vậy, theo cách hiểu này phân cấp đồng nghĩa với phi tập trung hóa. Nó giúp mở rộng việc tham gia của các chủ thể trong xã hội vào các hoạt động chính trị, kinh tế và xã hội của quốc gia.
Nó nâng cao hiệu quả quản lý trên cơ sở giảm bớt gánh nặng công việc sự vụ, hàng ngày của chính quyền trung ương, đồng thời tăng tính chủ động, sáng tạo, trách nhiệm của CQĐP các cấp. Ở Chương 2, tác giả phân tích các hình thức phân cấp cơ bản: phân cấp chính trị, phân cấp hành chính, phân cấp tài chính. Trong đó, cải cách công vụ được xem xét trong bối cảnh của phân cấp hành chính. Chương 3, xem xét phân cấp trên các lĩnh vực cụ thể như: giáo dục, y tế.
Ngoài ra, ấn phẩm còn phân tích những lợi ích tiềm năng của phân cấp đối với vấn đề bình đẳng xã hội, ổn định và tăng trưởng kinh tế, trách nhiệm báo cáo và tham nhũng [119]. Báo cáo chuyên đề của DGAFP (Direction Generale de L’Administration et de la Fonction Publique) (2008) về “Adistration and the Civil Service in the EU member Stater – 27 counry – Hành chính và hệ thống công vụ ở các nước thành viên EU qua thực tiễn 27 nước”. Dựa trên dữ liệu thực nghiệm từ các nước thành viên EU, bài viết trình bày một cái nhìn tổng quan về tình trạng hiện tại của các dịch vụ dân sự quốc gia, xu hướng cải cách chính đang diễn ra và các kết quả chính của cải cách tại các quốc gia. Mục tiêu tổng thể của bài viết là cung cấp bằng chứng thực nghiệm, sự kiện và bằng chứng thống kê so sánh nhằm giúp các chuyên gia và học giả hiểu rõ hơn về các dịch vụ dân sự của các quốc gia khác nhau [115].
Năm 2010, World Bank xuất bản cuốn sách “Opportunities and constraints for civil service reform in Indonesia: exploration of a new approach and methodology - Cơ hội và trở ngại cho cải cách dịch vụ công ở Indonesia: thăm dò 16 của một cách tiếp cận mới và phương pháp luận”. Mục đích của cuốn sách này là thông báo rộng rãi các kết quả nghiên cứu về cơ hội và trở ngại cho cải cách dịch cụ công ở Indonesia với hy vọng hướng đến một môi trường thuận lợi hơn cho cải cách dịch vụ dân sự. Ngoài ra, nhằm nâng cao nhận thức về thực trạng các dịch vụ dân sự ở Indonesia từ đó lựa chọn những vấn để cho cải cách công vụ. Nội dung cuốn sách đã phân tích rất chi tiết, cụ thể dưới góc độ pháp lý về trở ngại và khó khăn trong cải cách dịch vụ công ở Indonesia nói chung và cải cách dịch vụ dân sự nói riêng.
Về vấn đề quá trình chuyển đổi để phân cấp quản lý nhân sự, nhóm tác giả đã chỉ ra môi trường pháp lý không rõ ràng và thiếu sự gắn kết gây khó khăn cho quá trình phân cấp quản lý nhân sự, quy định về phân cấp thiếu một mức độ cao của sự ổn định và môi trường pháp lý cho vấn đề tự chủ [123]. Chính trị của phi tập trung: The Politics of decentralization. Carol J, được biên tập bởi Carol J. Pierce Colfer, Doris Capistrano, 27/4/2012 - 336 trang.
Phân cấp đang càn quét thế giới và có những tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến quản lý tài nguyên và sinh kế, đặc biệt là trong lâm nghiệp. Cuốn sách cập nhật nhất về các chủ đề, kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm từ phân cấp trên toàn thế giới. Dựa trên nghiên cứu và hỗ trợ từ tất cả các tổ chức bảo tồn và lâm nghiệp quốc tế lớn, cuốn sách cung cấp một tài khoản cân bằng bao gồm tác động của phân cấp đối với quản lý tài nguyên trên toàn thế giới và cung cấp những hiểu biết toàn cầu so sánh với ý nghĩa rộng lớn về chính sách, quản lý, bảo tồn và sử dụng tài nguyên và lập kế hoạch. Các chủ đề bao gồm quản trị rừng trong các hệ thống liên bang, phân cấp dân chủ về rừng và tài nguyên thiên nhiên, các con đường và cạm bẫy trong phân cấp và bảo tồn đa dạng sinh học trong các khu rừng phi tập trung.
Cuốn sách cung cấp các nghiên cứu sâu về phân cấp từ Bolivia, Ghana, Indonesia, Nga, Scotland, Thụy Sĩ, Uganda và Mỹ, cũng như các điểm nổi bật từ các quốc gia liên bang bao gồm Úc, Brazil, Canada, Ấn Độ và Malaysia. Nó cũng giải quyết các liên kết quan trọng giữa nhà nước, rừng, cộng đồng và quan hệ quyền lực trong một loạt các khu vực và hoàn cảnh, cung cấp các ví dụ điển hình về cách phân cấp đã được xem và trải nghiệm bởi các cộng đồng ở Guatemala, 17 Philippines và Zimbabwe. Chính trị của phi tập trung hóa là sự bao quát hiện đại của phân cấp và rất cần thiết cho các học viên, học giả và các nhà hoạch định chính sách trong lâm nghiệp và toàn bộ quản lý tài nguyên thiên nhiên. Uganda và Hoa Kỳ, cũng như các điểm nổi bật từ các quốc gia liên bang bao gồm Úc, Brazil, Canada, Ấn Độ và Malaysia.
Nó cũng giải quyết các liên kết quan trọng giữa nhà nước, rừng, cộng đồng và quan hệ quyền lực trong một loạt các khu vực và hoàn cảnh, và cung cấp các ví dụ điển hình về cách phân cấp đã được xem và trải nghiệm bởi các cộng đồng ở Guatemala, Philippines và Zimbabwe [111]. Decentralization in client countries. An evaluation of World Bank support, 1999-2007 (Sự phân quyền ở các nước khách hàng): Bản đánh giá với hỗ trợ Ngân hàng Thế giới. Đánh giá tổng quan của WB về các mục tiêu của sự phân quyền trong chính phủ ở các nước đang phát triển.
Những hỗ trợ của WB cho việc phân quyền và cho sự phát triển bền vững ở các nước đang phát triển. Hỗ trợ của WB trong việc phân bổ tài chính cho các dịch vụ giáo dục [113]. Decentralization and Local Government: A Danish-Polish Comparative Study in Political Systems (Phân cấp và chính quyền địa phương). Cuốn sách tập trung nghiên cứu so sánh phân cấp chính quyền giữa Đan Mạch và Ba Lan trong các hệ thống chính trị [114].
Quản lý nước thải tích hợp, phi tập trung để phục hồi tài nguyên ở khu vực nông thôn và ven đô thị (Integrated, decentralized wastewater management for resource recovery in rural and peri-urban areas). Khoa Xây dựng và Kiến trúc, Đại học Pavia, Ý, ngày 15 tháng 6 năm 2017. Thu gom và xử lý nước thải có tác động rất lớn đến môi trường và nền kinh tế, cả ở cấp địa phương và toàn cầu. Đổi mới sinh thái có thể đóng một vai trò tối quan trọng trong việc giảm tác động môi trường của các hệ thống đó và trong tính bền vững cao hơn của chúng về kinh tế, môi trường và xã hội.
Phân cấp dường như là một giải pháp hợp lý để giải quyết các vấn đề về tính bền vững của hệ thống quản lý nước thải, vì nó tập trung vào xử lý nước thải tại chỗ và tái chế và tái sử dụng các nguồn tài nguyên có trong nước thải sinh hoạt. Bài viết này phân tích nhu cầu, 18 lựa chọn công nghệ và đóng góp cho quản lý nước của các hệ thống phi tập trung. Các giải pháp phi tập trung nói chung sẽ có xu hướng tương thích với các yêu cầu sử dụng và tái sử dụng nước tại địa phương, trong đó nước được xử lý tại địa phương có thể hỗ trợ năng suất nông nghiệp hoặc (ở các khu vực đô thị) được sử dụng thay thế cho nước cấp chất lượng nước uống để sử dụng tương thích. Khi phân tích tính bền vững của công nghệ, cần tính đến các khía cạnh khác nhau (đặc biệt là các vấn đề địa phương).
Không có giải pháp cố định hoặc phổ quát cho vấn đề công nghệ; ngược lại, tất cả các nghiên cứu có liên quan đã chứng minh có mức độ bền vững khác nhau trong cách lựa chọn và vận hành công nghệ [108]. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý tài nguyên biển Tác giả Jon M.Van Dyke (1967), thông qua cuốn Governing Ocean Resources: New Challenges and Emerging Regimes, đã phân tích những vấn đề liên quan đến quản lý, khai thác TNB giữa các quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, phần 3 đã đề cập trực tiếp đến trách nhiệm của các quốc gia (trong đó có Việt Nam) trong việc quản lý, khai thác chia sẻ TNB [120]. Davor Vidas (2000) BVMT biển Luật và chính sách phòng chống ô nhiễm.
Đại học Cambridge, Vương quốc Anh. Theo đó cuốn sách đề cập đến một số nội dung cơ bản như: Toàn cầu hoá và chủ nghĩa khu vực trong việc BVMT biển; Công ước LHQ về Luật Biển và vùng cực môi trường biển; BVMT Nam Cực chống ô nhiễm biển theo Nghị định thư năm 1991; Chất thải phóng xạ trong các Barents và biển Kara; Quy chế hàng hải và ô nhiễm nguồn tàu trong Biển Bắc. Trong đó có đề cập một số vấn đề về phân cấp QLNN về khai thác TNB biển cho các cơ quan trung ương và địa phương trong phần về quan điểm trong nước và các quy định trong việc bảo vệ môi trường biển: Australia, Canada và Hoa Kỳ. Một nghiên cứu mang tính định hướng của tác giả Biliana Cicin - Sai and Robert W.Knecht (1998) trong cuốn Integrated Coastal and Ocean Management: Concepts and Practies cung cấp cho người đọc các khái niệm cơ bản về quản lý tổng hợp vùng bờ và vùng biển, nhu cầu chung về quản lý biển và quản lý tổng hợp đới bờ, nhu cầu toàn cầu tiến tới quản lý tổng hợp đới bờ của quốc gia.
Tại 19 cuốn sách này cũng có những hướng dẫn thực tế về quản lý tổng hợp đới bờ giữa các nước [109]. Đặc biệt, trong cuốn National Marine Policy, basic contents from Australia, Brazil, Canada, China, Colombia, Japan, Portugal, Russian Federation, United States (Intergovernmental Oceanographic Commission (2007), các tác giả đã nêu lên được tiềm năng TNB của các nước Ôxtrâylia, Braxin, Canađa, Trung Quốc, Côlômbia, Nhật bản, Nauy, Bồ Đào Nha, Liên bang Nga, Hoa Kỳ. từ đó, đã nêu bật được chính sách biển của các quốc gia để làm sao quản lý tốt, hiệu quả TNB. Tại công trình nghiên cứu cho thấy, nhiều nước đã áp dụng mô hình quản lý tổng hợp thành công như ở Nhật Bản, Canada, Trung Quốc.
đã đem lại hiệu quả cao.