Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động phân cấp quản lý nhà nước (QLNN) đối với tài nguyên biển (TNB) tại Việt Nam. Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài trên 3.260 km cùng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng gấp khoảng ba lần diện tích đất liền, chứa đựng hệ sinh thái đa dạng và nguồn tài nguyên phong phú. Tuy nhiên, công tác phân cấp QLNN về TNB bộc lộ nhiều bất cập: tình trạng ôm đồm công việc, lợi ích cục bộ, năng lực của cơ quan được phân cấp chưa tương xứng với nhiệm vụ, thiếu cơ sở khoa học đặc thù về không gian biển, và sự trùng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Do đó, việc xây dựng luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế phân cấp QLNN về TNB là yêu cầu cấp thiết.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về phân cấp QLNN đối với TNB kết hợp giữa quản lý chuyên ngành và quản lý tổng hợp, đồng thời gắn với các đặc tính sinh thái và pháp lý quốc tế của không gian biển.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục đích tổng quát: Làm rõ những vấn đề lý luận về phân cấp trong QLNN về TNB; đánh giá khách quan, khoa học thực trạng phân cấp trong QLNN về TNB ở Việt Nam hiện nay; đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện phân cấp trong QLNN về TNB nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Khái quát các quan điểm khoa học, xác lập khái niệm, đặc điểm, yếu tố tác động và đánh giá mức độ hoàn thiện của thể chế phân cấp trong QLNN về TNB.
    2. Đánh giá thực tiễn thực hiện phân cấp trong QLNN về TNB, chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
    3. Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện phân cấp trong QLNN về TNB ở Việt Nam.

Giả thuyết khoa học:

  1. Lý luận về phân cấp trong QLNN về TNB chưa được nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện, chỉnh thể và hệ thống.
  2. Thực trạng phân cấp trong QLNN về TNB ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập: cơ quan nhà nước cấp trên buông lỏng quản lý, thiếu kiểm soát quá trình phân cấp, xử lý vi phạm chưa nghiêm; cơ quan nhà nước cấp dưới tùy tiện thực hiện hoặc thiếu năng lực, điều kiện thực thi.
  3. Nếu xác định rõ ràng, chính xác, khách quan, khoa học hệ thống quan điểm và giải pháp hoàn thiện phân cấp, đồng thời đảm bảo các điều kiện thực hiện thì chất lượng và hiệu quả quản lý TNB sẽ được nâng cao.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Các công trình trong nước và quốc tế đã tiếp cận lý luận, thực trạng và giải pháp phân cấp QLNN về TNB như thế nào? Đã có công trình nghiên cứu chuyên biệt về phân cấp trong QLNN đối với TNB chưa?
  2. Cơ sở lý luận về phân cấp QLNN nói chung và phân cấp trong QLNN đối với TNB nói riêng bao gồm những nội dung gì? Đặc điểm nổi bật, tiềm năng và vị trí của TNB Việt Nam tác động ra sao đến hoạt động phân cấp?
  3. Hoạt động phân cấp trong QLNN về TNB chịu sự tác động của các yếu tố nào? Quá trình phân cấp hiện nay đã tính đến các yếu tố đặc thù của biển, tính chất các vùng biển, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo điều ước quốc tế chưa?
  4. Thực trạng thể chế, pháp luật và thực tiễn thực hiện phân cấp trong QLNN về TNB Việt Nam giai đoạn hiện nay diễn ra như thế nào? Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân xuất phát từ đâu? Quản lý tổng hợp TNB có thể thay thế quản lý ngành không?
  5. Hệ thống quan điểm, mục tiêu, giải pháp và điều kiện bảo đảm nào cần được xác lập để hoàn thiện thể chế, pháp luật phân cấp trong QLNN về TNB tại Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, thể chế, pháp luật và thực tiễn về phân cấp trong QLNN về TNB.
  • Phạm vi nội dung: Khái quát quá trình phân cấp từ năm 1975 và tập trung nghiên cứu thực tiễn phân cấp đối với 05 loại tài nguyên biển được điều chỉnh bởi các VBQPPL chuyên ngành: tài nguyên thủy sản biển, tài nguyên khoáng sản biển, tài nguyên dầu khí, tài nguyên giao thông vận tải biển và tài nguyên du lịch biển.
  • Phạm vi không gian: Phạm vi vùng biển và các địa phương có biển trên cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng từ năm 2008 đến nay (mốc triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X/XI về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP của Chính phủ).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhóm chủ đề chính:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Về phân cấp quản lý hành chính nhà nước: Công trình của Ngân hàng Thế giới (2005) Decentralization in East Asia for local governments to take effect khảo sát 6 quốc gia (Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Philippines, Thái Lan), tập trung vào tương tác giữa phân cấp hành chính, chính trị, tài chính và quản trị nhân lực; S. Sundaram (World Bank, 2003) trong cuốn Improving public administration in a competitive world phân tích các cấp độ phi tập trung hóa (phi tập trung, ủy quyền, trao quyền); ấn phẩm Summary notes on decentralization của World Bank (2000) hệ thống hóa các hình thức phân cấp; Kathleen O'Neill (2005) với Decentralizing the State: Elections, Parties, and Local Power in the Andes nghiên cứu động lực phân cấp tại Bolivia, Colombia, Ecuador, Peru, Venezuela; Báo cáo toàn cầu của World Bank (2008) Decentralization and Local Democracy in the World cung cấp bức tranh so sánh tại các châu lục; Tulia G. Falleti (2010) với Decentralization and Subnational Politics in Latin America phát triển lý thuyết phân cấp tuần tự; Jennie Litvack và Jessica Seddon (World Bank, 2000) trong Decentralization Briefing Notes phân tích bản chất phi tập trung hóa; Báo cáo của DGAFP (2008) về hệ thống công vụ qua thực tiễn 27 nước thành viên EU; cuốn sách của World Bank (2010) về cải cách dịch vụ công tại Indonesia; Carol J. Pierce Colfer và Doris Capistrano (2012) với The Politics of Decentralization đánh giá tác động phân cấp trong quản lý tài nguyên rừng tại nhiều quốc gia; nghiên cứu của Đại học Pavia, Ý (2017) về quản lý nước thải phi tập trung.
  • Về quản lý tài nguyên và môi trường biển: Jon M. Van Dyke (1967) trong Governing Ocean Resources: New Challenges and Emerging Regimes phân tích trách nhiệm quốc gia trong khai thác chia sẻ tài nguyên biển; Davor Vidas (2000) nghiên cứu luật và chính sách bảo vệ môi trường biển tại Australia, Canada, Hoa Kỳ; Biliana Cicin-Sain và Robert W. Knecht (1998) trong Integrated Coastal and Ocean Management: Concepts and Practices cung cấp khung lý thuyết quản lý tổng hợp vùng bờ; ấn phẩm của Ủy ban Hải dương học Liên Chính phủ (IOC, 2007) National Marine Policy tổng kết kinh nghiệm chính sách biển tại 10 quốc gia; tài liệu của UNESCO/IOC (2009) về Marine Spatial Planning hướng dẫn quy hoạch không gian biển dựa trên hệ sinh thái; tài liệu của Đại học New York về luật quốc tế và Tuyên bố Stockholm liên quan đến bảo tồn môi trường biển.

Các nghiên cứu trong nước

  • Về phân cấp QLNN chung: Võ Kim Sơn (2004) trong Phân cấp QLNN lý luận và thực tiễn phân tích mô hình thứ bậc, năng lực tiếp nhận phân cấp; Trần Thị Diệu Oanh (2013) nghiên cứu tác động của phân cấp đến địa vị pháp lý của chính quyền địa phương; Phạm Hồng Thái, Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Ngọc Chí (2011) trong giáo trình Phân cấp QLNN phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ và cấu trúc nhà nước; Đề tài của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) về phân cấp trung ương - địa phương; bài viết của Nguyễn Đình Thái (2018) trên Tạp chí Cộng sản về phân cấp bộ máy tại các thành phố trực thuộc trung ương; Phạm Thị Ngọc Trâm (2006) trong sách QLNN đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội, nhân văn.
  • Về quản lý và phân cấp quản lý tài nguyên biển: Đề tài cấp Bộ của Chu Phạm Ngọc Hiển về hoàn thiện pháp luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; đề tài của Vũ Thanh Ca về cơ sở khoa học quản lý môi trường, hệ sinh thái biển phục vụ Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Luận án tiến sĩ của Đỗ Văn Sen (2015) về Pháp luật về khai thác TNB ở Việt Nam; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế (2016) QLNN về biển và hải đảo vấn đề và cách tiếp cận với các tham luận của Trần Đình Thiên, Nguyễn Thị Lan Anh, Hoàng Nhất Thống, Phùng Thị Phong Lan, Trần Ngọc Thêm, Vũ Thị Huyền Trang, Lê Như Thanh, Nguyễn Như Phát, Hoàng Thị Cường, Vũ Sỹ Tuấn; các bài viết của Phạm Ngọc Sơn (2013, 2015) về Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 và phương thức quản lý tổng hợp; công trình của Đặng Xuân Phương và Nguyễn Lê Tuấn (2014) QLNN tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Hầu hết các công trình quốc tế và trong nước chỉ tiếp cận phân cấp ở góc độ hành chính công tổng quát hoặc nghiên cứu quản lý tài nguyên biển theo giác độ kỹ thuật, luật học đơn ngành. Chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu chuyên biệt, toàn diện về phân cấp QLNN đối với TNB, làm rõ mối quan hệ giữa phân cấp quản lý ngành với quản lý tổng hợp, và thiết lập các nguyên tắc phân cấp dựa trên đặc thù sinh thái biển và pháp lý biển quốc tế tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm QLNN: QLNN là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên mọi lĩnh vực, nhằm duy trì trật tự và thúc đẩy phát triển xã hội (theo quan điểm của Phạm Hồng Thái, Đào Hồng Hạnh).
  • Nội dung QLNN về TNB: Bao gồm 11 nội dung: ban hành văn bản pháp luật; quy hoạch, chiến lược, chính sách; chương trình, dự án; hợp tác quốc tế; phát triển nguồn nhân lực; xây dựng bộ máy; cấp phép khai thác; đào tạo chuyên môn; thống kê, cơ sở dữ liệu; nghiên cứu khoa học công nghệ; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
  • Khái niệm TNB và quản lý tổng hợp TNB: Theo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, TNB gồm tài nguyên sinh vật và phi sinh vật thuộc khối nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, đất ven biển và hải đảo. Quản lý tổng hợp TNB là phương thức hoạch định, điều phối liên ngành, liên vùng dựa trên tiếp cận hệ sinh thái, đóng vai trò kết nối chứ không thay thế quản lý chuyên ngành.
  • Khái niệm phân cấp QLNN về TNB: Là sự chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các hoạt động bảo vệ, khai thác, sử dụng TNB từ cơ quan nhà nước cấp trên cho cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện thường xuyên, liên tục thông qua quy định pháp luật.
  • Khung pháp lý áp dụng: Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP, Nghị quyết số 99/NQ-CP, Nghị định số 21/NĐ-CP, Nghị định số 36/2017/NĐ-CP, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 cùng các luật chuyên ngành (Luật Thủy sản, Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Du lịch).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hướng tiếp cận đa ngành, liên ngành (hành chính công, luật học, khoa học quản lý, khoa học phát triển).

Các phương pháp cụ thể bao gồm:

  1. Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích lý thuyết, văn bản pháp luật và thực tiễn thể chế.
  2. Phương pháp khảo sát thực tế: Khảo sát tại các khu du lịch, cảng biển, vùng nuôi trồng thủy sản, các sở và chi cục quản lý TNB. Tác giả thực hiện khảo sát với khoảng 150 người, thu về 137 phiếu khảo sát hợp lệ từ cán bộ, công chức và học viên các lớp bồi dưỡng QLNN.
  3. Phương pháp điều tra xã hội học: Thu thập thông tin qua phiếu hỏi tại các hội thảo chuyên môn: Hội thảo hoàn thiện Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP; Hội thảo dự thảo Nghị định về chuyển nhượng, thế chấp, cho thuê quyền sử dụng khu vực biển; Hội thảo xây dựng Nghị định về hoạt động lấn biển; Hội nghị phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý tổng hợp TNB năm 2020 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  4. Phương pháp thống kê và dự báo: Xử lý số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát bằng bảng tính Microsoft Excel; sử dụng phương pháp ngoại suy để dự báo xu thế phát triển thể chế và thực tiễn quản lý.
  5. Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu, trao đổi trực tiếp với các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường biển.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và những vấn đề cần nghiên cứu

Chương này điểm luận toàn diện hệ thống tài liệu trong và ngoài nước về phân cấp QLNN, phân cấp quản lý tài nguyên môi trường và quản lý biển. Tác giả chỉ ra rằng các công trình quốc tế đã cung cấp nền tảng lý luận phong phú về phi tập trung hóa hành chính, tài chính, nhân lực (World Bank, Sundaram, Falleti, O'Neill) cũng như mô hình quản lý không gian biển và đới bờ tích hợp (Cicin-Sain, Knecht, IOC). Các công trình trong nước đã làm rõ địa vị pháp lý của chính quyền địa phương và thực trạng quản lý tài nguyên theo ngành. Từ việc phân tích khoảng trống học thuật, chương 1 xác lập 03 nhóm vấn đề trọng tâm mà luận án trực tiếp giải quyết: xây dựng lý luận phân cấp QLNN về TNB; đánh giá thực trạng thể chế và thực tiễn thực thi phân cấp theo các nguyên tắc quản lý; đề xuất hệ thống giải pháp và điều kiện bảo đảm phân cấp có tính khả thi.

Chương 2: Cơ sở lý luận về phân cấp trong quản lý nhà nước về TNB

Chương 2 làm rõ các khái niệm công quyền, nội dung QLNN, phân loại và đặc tính của TNB, từ đó xây dựng nội hàm phân cấp QLNN về TNB. Luận án nhấn mạnh 5 nhóm TNB trọng điểm với các thông số tiềm năng và đặc trưng quản lý:

Nhóm tài nguyên biển Tiềm năng, quy mô và đặc điểm theo số liệu luận án Đặc thù quản lý và phân cấp
Tài nguyên thủy sản Hơn 2.000 loài cá phát hiện (~100 loài kinh tế); 15 bãi cá lớn ven bờ; trữ lượng cá ~5 triệu tấn/năm, khả năng đánh bắt ~2,3 triệu tấn/năm; >37.000 ha mặt nước mặn/lợ; >50.000 ha eo vịnh, đầm phá (Hạ Long, Bái Tử Long, Tam Giang, Vân Phong). Tài nguyên tái tạo nhưng nguy cơ cạn kiệt do khai thác quá mức; cần phân cấp cấp phép khai thác ven bờ gắn với quản lý tàu thuyền và phân vùng bảo vệ.
Tài nguyên du lịch biển Đường bờ biển dài, địa hình sơn thủy đa dạng; gần 82 đảo ven bờ >1 km² (24 đảo diện tích 10 - 320 km²); 7/13 di sản thế giới tại Việt Nam; 6/8 khu dự trữ sinh quyển; chuỗi đô thị du lịch biển (Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu). Tài nguyên vị thế/cảnh quan; phân cấp quản lý gắn với bảo vệ môi trường, kiểm soát dự án lấn biển, chia sẻ không gian ven bờ.
Tài nguyên khoáng sản biển Khoảng 35 loại hình khoáng sản (nhiên liệu, kim loại, VLXD, đá quý, khoáng sản lỏng); sa khoáng titan, ziacon, xeri; mỏ cát VLXD đáy biển Quảng Ninh, Hải Phòng (>100 tỷ tấn); dãy cát thạch anh ngầm Quảng Ninh (~9 tỷ tấn); năng lượng băng cháy, sóng, thủy triều. Tài nguyên không tái tạo; đòi hỏi phân cấp thẩm quyền cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường cho địa phương.
Tài nguyên dầu khí Phân bố tại 6 bồn trầm tích (Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Malay - Thổ Chu, Tư Chính); 11 mỏ thềm lục địa phía Nam; trữ lượng dự báo ~10 tỷ tấn quy dầu; khí đốt trữ lượng khai thác ~3.000 tỷ m³; xác định gần 550 triệu tấn dầu và >610 tỷ m³ khí; khí sẵn sàng phát triển ~400 tỷ m³. Tài nguyên chiến lược quốc gia; thẩm quyền quản lý tập trung ở trung ương, phân định trách nhiệm phối hợp với địa phương ven biển.
Tài nguyên giao thông vận tải biển Nằm trên tuyến hàng hải quốc tế kết nối Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (qua eo biển Malacca, Basi, các eo biển khu vực Đông Nam Á); 5/10 tuyến đường biển lớn nhất thế giới đi qua hoặc liên quan Biển Đông; nhiều vụng kín gió thuận lợi xây dựng cảng biển. Không gian liên thông quốc tế; phân cấp quản lý vùng nước cảng biển, quản lý luồng tuyến và kết cấu hạ tầng logistics gắn với an ninh hàng hải.

Chương 2 khẳng định đặc thù của TNB là tính chia sẻ, không gian biển liên thông, mối quan hệ hữu cơ giữa các hệ sinh thái và chịu sự chi phối của các điều ước quốc tế về biển. Do đó, phân cấp QLNN về TNB không thể áp đặt nguyên xi mô hình phân cấp quản lý đất liền mà phải đảm bảo tính liên kết vùng, tiếp cận hệ sinh thái và duy trì vai trò điều phối của quản lý tổng hợp.

Chương 3: Thực trạng phân cấp trong quản lý nhà nước về TNB ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 phân tích thực trạng phân cấp qua 3 giai đoạn lịch sử (1975 - 1990, 1990 - 2008, 2009 đến nay), rà soát hệ thống quy định pháp luật giai đoạn 2009 - 2020 và đánh giá thực tiễn thực thi trong từng lĩnh vực tài nguyên.

  • Kết quả đạt được: Đã bước đầu hình thành khung pháp lý phân cấp theo ngành kết hợp quản lý tổng hợp; giảm tải một phần thủ tục hành chính sự vụ cho trung ương; nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương có biển trong khai thác kinh tế và giải quyết an sinh xã hội.
  • Hạn chế, bất cập: Tồn tại hiện tượng cục bộ, cát cứ địa phương; thiếu quy định phân chia địa giới hành chính trên biển giữa các tỉnh ven biển dẫn đến tranh chấp thẩm quyền giao khu vực biển; năng lực cán bộ chuyên môn và trang thiết bị tại cấp huyện, xã ven biển chưa đáp ứng yêu cầu quản lý; cơ chế kiểm soát, thanh tra của cơ quan trung ương sau phân cấp còn lỏng lẻo; một số quy định giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với các luật chuyên ngành còn mâu thuẫn về thẩm quyền cấp phép và giao quyền sử dụng biển.
  • Nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan xuất phát từ tính chất phức tạp, biến động của môi trường biển và biến đổi khí hậu; nguyên nhân chủ quan là do tư duy quản lý hành chính truyền thống, chậm đổi mới thể chế và thiếu nguồn lực tài chính, kỹ thuật phục vụ quản lý biển.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý nhà nước về TNB ở Việt Nam

Chương 4 xác định các quan điểm chỉ đạo: bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng; đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước; gắn phân cấp với trách nhiệm giải trình và tính minh bạch. Từ đó, chương đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:

  1. Bổ sung 02 nguyên tắc phân cấp mới vào cơ sở lý luận và thể chế: Phân cấp phải căn cứ vào đặc thù của biển, hệ thống TNB và môi trường biển; phân cấp phải phù hợp với chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam theo luật pháp quốc tế (UNCLOS 1982).
  2. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Bổ sung quy định bắt buộc đánh giá tác động của quy định phân cấp trong QLNN về TNB vào Luật Ban hành VBQPPL; sửa đổi, đồng bộ hóa các luật chuyên ngành với Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015.
  3. Ban hành quy định phân chia địa giới hành chính trên biển: Thiết lập ranh giới quản lý hành chính lãnh thổ trên biển giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương làm cơ sở phân định thẩm quyền quản lý không gian và tài nguyên.
  4. Nâng cao nhận thức và năng lực thực thi: Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật biển; tổ chức bồi dưỡng kỹ năng QLNN về biển cho đội ngũ cán bộ công chức cơ sở.
  5. Bảo đảm các điều kiện thực hiện và kiện toàn bộ máy: Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, hệ thống cơ sở dữ liệu quan trắc, phân bổ ngân sách tương xứng với nhiệm vụ phân cấp; củng cố các chi cục biển và hải đảo, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.
  6. Khuyến nghị cụ thể: Đưa ra các khuyến nghị phân nhóm cho Quốc hội (hoàn thiện luật), Chính phủ (ban hành nghị định phân định địa giới biển, cơ chế giao khu vực biển), các Bộ ngành (Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT, Bộ GTVT, Bộ Công thương, Bộ VHTT&DL về quy chuẩn và phối hợp liên ngành) và UBND 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ nội hàm lý luận về phân cấp QLNN đối với TNB, đặt trong mối quan hệ hữu cơ giữa quản lý chuyên ngành và quản lý tổng hợp dựa trên tiếp cận hệ sinh thái.
  2. Đề xuất bổ sung 02 nguyên tắc phân cấp mang tính đặc thù vào hệ thống lý luận phân cấp quản lý công:
    • Nguyên tắc 1: Phân cấp trong QLNN về TNB phải căn cứ vào đặc thù của biển, TNB, hệ thống TNB và môi trường biển (tính liên thông không gian, tính chia sẻ nguồn lợi, sức chịu tải hệ sinh thái).
    • Nguyên tắc 2: Phân cấp trong QLNN về TNB phải bảo đảm phù hợp với quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển theo các công ước, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Chỉ rõ các điểm nghẽn thể chế và khoảng trống pháp lý trong việc phân cấp quản lý biển giai đoạn 2009 - 2020 trên 05 lĩnh vực tài nguyên cụ thể thông qua dữ liệu khảo sát 137 phiếu thực tế.
  2. Đề xuất giải pháp bổ sung nội dung đánh giá tác động của quy định phân cấp quản lý TNB trong quá trình lập đề nghị và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật vào Luật Ban hành VBQPPL.
  3. Đề xuất khung giải pháp xây dựng quy định pháp lý về phân chia địa giới hành chính trên biển nhằm phân định ranh giới quản lý hành chính và tài nguyên cho chính quyền địa phương cấp tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát chuyên sâu vào 05 nhóm tài nguyên biển truyền thống (thủy sản, khoáng sản, dầu khí, giao thông hàng hải, du lịch) mà chưa bao quát hết các dạng tài nguyên mới nổi như năng lượng gió ngoài khơi, năng lượng sóng, tài nguyên vị thế số. Việc tiếp cận chủ yếu dưới góc độ khoa học hành chính và thể chế quản lý, các khía cạnh kỹ thuật đo đạc phân định ranh giới biển chi tiết chưa được phân tích sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế phân cấp đối với các dạng tài nguyên năng lượng tái tạo trên biển; nghiên cứu hoàn thiện các tiêu chí kỹ thuật - pháp lý phục vụ hoạch định đường địa giới hành chính trên biển giữa các địa phương; xây dựng mô hình đánh giá định lượng hiệu quả phân cấp QLNN về TNB theo bộ chỉ số hiệu quả công việc.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ Quốc hội, Chính phủ và các Bộ chuyên ngành trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành VBQPPL, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, các nghị định về giao khu vực biển và quy định phân định địa giới hành chính trên biển.
  • Đối với chính quyền địa phương ven biển: Là tài liệu tham khảo trực tiếp cho UBND các tỉnh, thành phố có biển trong việc kiện toàn bộ máy cơ quan chuyên môn, xây dựng quy chế phối hợp liên ngành và nâng cao hiệu quả tiếp nhận các nhiệm vụ phân cấp.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Đóng vai trò tài liệu chuyên khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý công, Hành chính công, Luật Hành chính, Luật Quốc tế và Quản lý tài nguyên môi trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở pháp lý và phạm vi thời gian nghiên cứu trọng tâm của luận án là gì?
Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng phân cấp trong QLNN về TNB từ năm 2008 đến năm 2020, gắn liền với việc triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X/XI về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP, Nghị quyết số 99/NQ-CP và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015.

2. Luận án đề xuất bổ sung những nguyên tắc phân cấp mới nào?
Luận án đề xuất bổ sung 02 nguyên tắc: (1) Phân cấp trong QLNN về TNB phải căn cứ vào đặc thù của biển, TNB, hệ thống TNB và môi trường biển; (2) Phân cấp trong QLNN về TNB phải bảo đảm phù hợp với quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển theo công ước, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

3. Phương thức quản lý tổng hợp TNB có thay thế quản lý chuyên ngành không?
Không. Theo luận án và quy định tại Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, quản lý tổng hợp không thay thế quản lý chuyên ngành mà đóng vai trò là công cụ điều phối, tích hợp liên ngành, liên vùng dựa trên tiếp cận hệ sinh thái để kết nối các hoạt động khai thác, sử dụng TNB của các ngành, địa phương.

4. Khảo sát thực tế trong luận án được thực hiện với quy mô và đối tượng như thế nào?
Tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế tại các khu du lịch, cảng biển, vùng nuôi trồng thủy sản, sở và chi cục quản lý TNB; phát phiếu khảo sát tới 150 người tại các hội thảo chuyên môn và lớp bồi dưỡng quản lý, thu về 137 phiếu hợp lệ để xử lý thống kê trên phần mềm Excel.

5. Giải pháp then chốt để giải quyết tranh chấp thẩm quyền quản lý biển giữa các địa phương là gì?
Giải pháp then chốt là ban hành các quy định pháp luật về phân chia địa giới hành chính trên biển, xác định rõ đường ranh giới quản lý hành chính lãnh thổ trên biển giữa các tỉnh, thành phố ven biển làm căn cứ phân cấp trách nhiệm và thẩm quyền giao khu vực biển.


Kết luận

Luận án đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phân cấp quản lý nhà nước đối với tài nguyên biển, xác lập 02 nguyên tắc phân cấp đặc thù xuất phát từ tính chất không gian liên thông và quy chế pháp lý quốc tế của biển. Thông qua việc phân tích thực trạng thể chế và thực tiễn trên 05 nhóm tài nguyên trọng điểm, công trình đã chỉ rõ các khoảng trống pháp lý và bất cập trong tổ chức thực thi tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2020. Hệ thống giải pháp và khuyến nghị được đề xuất mang tính đồng bộ, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng cao cho việc hoàn thiện thể chế hành chính và nâng cao hiệu lực QLNN về biển trong giai đoạn phát triển mới.