Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn áp dụng pháp luật phá sản tại Việt Nam qua các thời kỳ cho thấy sự chuyển biến rõ rệt về hiệu quả tư pháp và giải phóng nguồn lực kinh tế. Trong suốt 9 năm thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, toàn ngành Tòa án chỉ tuyên bố phá sản 46 doanh nghiệp. Giai đoạn gần 10 năm tiếp theo dưới sự điều chỉnh của Luật Phá sản năm 2004, con số này cũng chỉ dừng lại ở mức khiêm tốn với 83 trường hợp. Sự ra đời của Luật Phá sản năm 2014 với hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 đã tạo ra bước ngoặt căn bản khi ghi nhận hơn 400 quyết định tuyên bố phá sản trên phạm vi toàn quốc tính đến cuối năm 2019, trong đó các cơ quan thi hành án và Quản tài viên đã tổ chức thi hành dứt điểm khoảng 275 việc.

Tuy nhiên, các quy định mới tại Chương XII của Luật Phá sản năm 2014 về thi hành quyết định tuyên bố phá sản đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn khi vận hành đồng thời với Luật Thi hành án dân sự. Đề tài tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và chỉ ra các vướng mắc trong khâu thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Phạm vi nghiên cứu được xác định trọng tâm tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong khung thời gian 5 năm từ năm 2015 đến hết năm 2020. Đây là địa bàn trọng điểm quốc gia khi Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh phải gánh vác tới 13% tổng số lượng việc và 39% tổng giá trị tài sản phải thi hành của toàn quốc, trong khi nguồn nhân lực chỉ chiếm 6,9% tổng biên chế toàn hệ thống. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn to lớn trong việc chuẩn hóa quy trình phối hợp liên ngành, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ nợ và người lao động, đồng thời thúc đẩy cải cách thủ tục giải quyết phá sản tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tố tụng tư pháp đặc biệt và lý thuyết phục hồi - thanh lý trong luật thương mại quốc tế. Phá sản được tiếp cận dưới bản chất là một thủ tục đòi nợ tập thể đặc thù nhằm bảo toàn tối đa giá trị tài sản và giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán. Khung lý thuyết tập trung vào 4 khái niệm nền tảng:

Thứ nhất, thi hành quyết định tuyên bố phá sản là hoạt động của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền nhằm xử lý, thanh lý khối tài sản còn lại để phân chia cho các chủ nợ theo thứ tự luật định.

Thứ hai, quyết định tuyên bố phá sản là phán quyết tư pháp có hiệu lực của Tòa án nhân dân nhằm chấm dứt sự tồn tại pháp lý của một chủ thể kinh doanh theo Điều 108 Luật Phá sản năm 2014.

Thứ ba, khối tài sản còn lại của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản được xác định dựa trên Điều 64 và Điều 127 Luật Phá sản năm 2014, bao gồm toàn bộ tài sản hiện hữu, quyền tài sản, phần giá trị chênh lệch sau khi xử lý tài sản bảo đảm, tài sản thu hồi từ các giao dịch vô hiệu và tài sản chưa chia được phát hiện sau phán quyết.

Thứ tư, thiết chế quản lý tài sản song trùng giữa Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý thanh lý tài sản và Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự. Luận văn cũng kế thừa kinh nghiệm lập pháp từ mô hình quản trị viên độc lập của Nhật Bản, cơ chế đại diện chủ nợ của Cộng hòa Pháp và mô hình Quản tài viên chuyên nghiệp của Liên bang Nga để đối chiếu thực tiễn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu điển hình kết hợp thống kê mô tả toàn bộ hồ sơ thi hành án phá sản tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh trong chu kỳ 3 năm từ năm 2018 đến năm 2020. Cỡ mẫu khảo sát thực tế gồm 57 lượt thụ lý việc phá sản với tổng giá trị tài sản theo dõi xử lý vượt mức 130 tỷ đồng năm 2018 và 76 tỷ đồng năm 2020. Nghiên cứu đi sâu phân tích định tính đối với 2 vụ án thực tế điển hình: vụ việc giải quyết phá sản Công ty Nuôi trồng Thủy Sản kéo dài 17 năm và vụ việc thi hành án tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đồng Trí với tổng nghĩa vụ nợ 27 tỷ đồng.

Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích số liệu thống kê và phương pháp phân tích quy phạm so sánh luật học xuất phát từ tính chất giao thoa phức tạp giữa Luật Phá sản năm 2014, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi năm 2014, Nghị định số 22/2015/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC. Toàn bộ chuỗi dữ liệu thực nghiệm được thu thập, xử lý và đối chiếu trong mốc thời gian hoàn chỉnh từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 đến ngày 31 tháng 12 năm 2020 nhằm đảm bảo tính khách quan và khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số lượng việc phá sản được giải quyết có sự tăng trưởng mạnh mẽ sau khi áp dụng Luật Phá sản năm 2014 nhưng hiệu quả thi hành trên thực tế vẫn còn thấp. Trên toàn quốc, số quyết định phá sản ban hành đạt khoảng 427 quyết định tính đến cuối năm 2019, cao gấp hơn 5 lần so với thời kỳ áp dụng Luật Phá sản năm 2004. Riêng Quản tài viên và các doanh nghiệp thanh lý tài sản đã trực tiếp giải quyết xong khoảng 275 vụ việc.

Thứ hai, kết quả thi hành án phá sản tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận tỷ lệ giải quyết thành công về việc và về tiền còn rất khiêm tốn. Năm 2018, thành phố thụ lý 16 việc và thi hành xong 3 việc. Đến năm 2019, tổng số việc thụ lý tăng lên 23 việc và giải quyết xong 9 việc. Sang năm 2020, trong tổng số 18 việc thụ lý (gồm 12 việc cũ chuyển sang và 6 việc mới), cơ quan thi hành án chỉ hoàn thành 5 việc, đạt tỷ lệ 27,78% trên tổng số việc có điều kiện thi hành. Về mặt giá trị, tổng số tiền phải giải quyết năm 2020 đạt trên 76 tỷ đồng, song số tiền thực tế thi hành xong chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ do tài sản bị giảm giá trị nghiêm trọng hoặc vướng mắc về quyền sở hữu.

Thứ ba, tình trạng quá tải nghiêm trọng tại cơ quan thi hành án địa phương làm chậm tiến độ xử lý phá sản. Với 315 Chấp hành viên, bình quân mỗi Chấp hành viên tại Thành phố Hồ Chí Minh phải gánh vác trên 317 vụ việc mỗi năm cùng khối lượng tiền phải thi hành bình quân vượt mức 338 tỷ đồng, dẫn đến sự đình trệ trong khâu xác minh và tổ chức bán đấu giá tài sản phá sản.

Thứ tư, thời gian giải quyết một số vụ án bị kéo dài bất thường do xung đột chuyển tiếp pháp luật. Điển hình như vụ việc phá sản Công ty Nuôi trồng Thủy Sản thụ lý từ năm 2000 nhưng phải mất 17 năm đến ngày 27 tháng 7 năm 2017 mới ban hành được Quyết định tuyên bố phá sản số 953/2017/QĐ-TBPS, và tiếp tục mất thêm gần 12 tháng để Tòa án chuyển giao hồ sơ sang cơ quan thi hành án vào ngày 06 tháng 7 năm 2018.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Về thời hạn ra quyết định thi hành án, Khoản 1 Điều 120 Luật Phá sản năm 2014 quy định cơ quan thi hành án phải chủ động ra quyết định trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án ra phán quyết phá sản. Trong khi đó, Khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự lại quy định thời hạn là 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Bất cập này càng gia tăng khi Khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC cho phép Tòa án chuyển giao quyết định trong thời hạn lên đến 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật.

Dữ liệu thực trạng có thể được hệ thống hóa qua bảng so sánh đối chiếu đa chiều giữa các năm 2018, 2019, 2020 và sơ đồ luồng luân chuyển hồ sơ giữa Tòa án - Quản tài viên - Cơ quan Thi hành án dân sự. Qua sơ đồ này, điểm nghẽn thể hiện rõ ở cơ chế chuyển giao tài sản sau thời hạn 2 năm quy định tại Khoản 4 Điều 121 Luật Phá sản năm 2014. Khi Quản tài viên không thể thanh lý xong tài sản trong thời hạn 24 tháng, việc bàn giao sang cho Chấp hành viên xử lý lại từ đầu theo quy trình thi hành án dân sự thông thường làm phát sinh thêm nhiều thủ tục trung gian, kéo dài thời gian thi hành án và gia tăng chi phí cho các đương sự.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và thống nhất khung pháp lý về thời hạn thi hành án phá sản. Quốc hội, Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao cần sửa đổi đồng bộ Điều 120 Luật Phá sản năm 2014, Điều 36 Luật Thi hành án dân sự và Điều 5 Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC. Mục tiêu cụ thể là rút ngắn thời hạn Tòa án chuyển giao bản án từ 30 ngày xuống tối đa 5 ngày làm việc, đảm bảo 100% quyết định phá sản được cơ quan thi hành án thụ lý trong vòng 3 ngày kể từ khi tiếp nhận hồ sơ.

Thứ hai, tái cấu trúc vai trò của Quản tài viên theo mô hình tố tụng một đầu mối. Nghiên cứu sửa đổi Luật Phá sản theo hướng trao trọn quyền quản lý và thanh lý tài sản cho cá nhân Quản tài viên độc lập dưới sự giám sát trực tiếp của Thẩm phán từ khi mở thủ tục đến lúc kết thúc vụ việc, bãi bỏ khâu bàn giao chuyển tiếp sau 2 năm sang cơ quan thi hành án dân sự nhằm cắt giảm ít nhất 40% thủ tục hành chính trùng lặp.

Thứ ba, chuẩn hóa nội dung quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn bắt buộc Thẩm phán phải đính kèm danh mục kiểm kê tài sản chi tiết và phương án phân chia tài sản cụ thể theo Điều 54 Luật Phá sản năm 2014, khắc phục triệt để tình trạng phán quyết thiếu thông tin tài sản như tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đồng Trí làm đình trệ khoản nợ 27 tỷ đồng.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và minh bạch đấu giá tài sản. Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Tổng cục Thi hành án dân sự triển khai cổng thông tin điện tử công khai danh mục tài sản phá sản và đấu giá trực tuyến trong giai đoạn 2024 - 2026, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ thi hành dứt điểm các vụ việc có điều kiện lên trên 50% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Chấp hành viên và Lãnh đạo cơ quan Thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh cùng 63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn giúp phân định rõ thẩm quyền giám sát Quản tài viên, chuẩn hóa quy trình cưỡng chế thu hồi tài sản theo Điều 120 Luật Phá sản năm 2014 và giải tỏa khối lượng việc tồn đọng trị giá hàng trăm tỷ đồng.

Thứ hai, đội ngũ Quản tài viên và Doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Các cá nhân, tổ chức hành nghề có thể nắm vững quy trình xử lý tài sản trong hạn định 2 năm theo Điều 121 Luật Phá sản năm 2014, các bước phối hợp mở tài khoản ngân hàng và kỹ năng lập báo cáo phân chia tiền thanh lý theo đúng Điều 54 của luật.

Thứ ba, Thẩm phán và Thư ký Tòa án nhân dân các cấp chuyên trách giải quyết án kinh tế. Công trình chỉ rõ các thiếu sót thường gặp khi tuyên bố phá sản, hỗ trợ xây dựng quyết định phá sản hoàn chỉnh về danh mục tài sản, giúp rút ngắn thời gian chuyển giao hồ sơ sang cơ quan thi hành án xuống dưới 5 ngày.

Thứ tư, Giảng viên, Học viên cao học và Nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật kinh tế, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự. Tài liệu cung cấp hệ thống số liệu thực chứng 5 năm giai đoạn 2015 - 2020 và nguồn tư liệu so sánh pháp luật chuyên sâu với các hệ thống tư pháp phát triển như Nhật Bản, Pháp và Nga.

Câu hỏi thường gặp

Thứ nhất, điểm khác biệt căn bản trong khâu thi hành quyết định tuyên bố phá sản giữa Luật Phá sản năm 2004 và Luật Phá sản năm 2014 là gì? Dưới thời kỳ Luật Phá sản năm 2004, việc thanh lý tài sản phải hoàn thành trước khi Tòa án ra phán quyết phá sản, dẫn đến suốt 10 năm chỉ có 83 trường hợp được tuyên. Ngược lại, Luật Phá sản năm 2014 quy định thi hành quyết định phá sản là một giai đoạn độc lập sau phán quyết, giúp ban hành hơn 400 quyết định trong 5 năm đầu áp dụng.

Thứ hai, mâu thuẫn lớn nhất về thời hạn ra quyết định thi hành án phá sản hiện nay nằm ở văn bản nào? Mâu thuẫn phát sinh giữa Điều 120 Luật Phá sản năm 2014 quy định thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự quy định 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận quyết định, và Khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC cho phép Tòa án chuyển giao hồ sơ trong thời hạn 30 ngày.

Thứ ba, sau thời hạn 2 năm nếu Quản tài viên chưa thanh lý xong tài sản thì vụ việc được xử lý như thế nào? Căn cứ Khoản 4 Điều 121 Luật Phá sản năm 2014, Quản tài viên phải chấm dứt quyền thanh lý và bàn giao toàn bộ tài sản, hồ sơ trong thời hạn 5 ngày làm việc cho Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự để tiếp tục tổ chức định giá, bán đấu giá theo thủ tục thi hành án dân sự.

Thứ tư, thứ tự ưu tiên phân chia tài sản của doanh nghiệp bị phá sản được thực hiện ra sao khi số tiền thu hồi không đủ chi trả? Theo Điều 54 Luật Phá sản năm 2014, tiền thanh lý ưu tiên chi trả chi phí phá sản, nợ lương và bảo hiểm của người lao động, các khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục, sau đó mới đến nghĩa vụ tài chính nhà nước và nợ không bảo đảm. Nếu không đủ thanh toán, các chủ nợ trong cùng một hàng ưu tiên sẽ nhận tiền theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

Thứ năm, áp lực lớn nhất đối với công tác thi hành án phá sản tại Thành phố Hồ Chí Minh là gì? Áp lực lớn nhất là sự quá tải biên chế khi cơ quan thi hành án thành phố phải xử lý 13% tổng số việc và 39% tổng số tiền toàn quốc nhưng chỉ có 315 Chấp hành viên, khiến bình quân mỗi Chấp hành viên phải thụ lý hơn 317 việc với giá trị trên 338 tỷ đồng mỗi năm.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo Luật Phá sản năm 2014, khẳng định bước tiến lớn với hơn 427 quyết định được ban hành trên toàn quốc tính đến năm 2019.
  • Chỉ rõ những xung đột quy phạm giữa Luật Phá sản năm 2014, Luật Thi hành án dân sự và Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC trong khâu chuyển giao hồ sơ và thời hạn thụ lý.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2018 - 2020, phản ánh tỷ lệ thi hành xong về việc chỉ đạt 27,78% năm 2020 do áp lực quá tải trên 317 việc/Chấp hành viên và vướng mắc bàn giao tài sản sau 24 tháng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, trọng tâm là mô hình Quản tài viên tố tụng một đầu mối theo kinh nghiệm Nhật Bản và chuẩn hóa danh mục tài sản trong phán quyết tư pháp.
  • Đưa ra lộ trình triển khai công nghệ đấu giá trực tuyến giai đoạn 2024 - 2026, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ giải quyết dứt điểm các vụ việc phá sản có điều kiện lên trên 50%.

Độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan chuyên môn hãy tiếp tục tra cứu, đối chiếu các phân tích quy phạm và số liệu thực chứng của công trình để đóng góp vào tiến trình hoàn thiện Dự thảo Luật Phá sản sửa đổi trong thời gian tới.