CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 1. Du lịch và những ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường 1. Khái niệm du lịch Với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển và đang dần khẳng định được vị trí của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước. Nghị quyết 08 – NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành ngày 16/01/2017, trong đó xác định đến năm 2020 du lịch cơ bản là ngành kinh tế mũi nhọn với tổng thu 35 tỷ USD, đóng góp 10% cho GDP.
Trong vòng 10 năm sau đó, du lịch cần thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các lĩnh vực khác, đưa Việt Nam vào nhóm các nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Ngành du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt các ngành khác như vận tải, bưu điện, thương nghiệp, tài chính, các hoạt động phục vụ sinh hoạt cá nhân, các dịch vụ phục vụ nhu cầu giải trí, các hoạt động văn hoá thể thao.Mặt khác, hoạt động du lịch còn có tác dụng tăng cường các mối quan hệ xã hội, tình hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia. Bên cạnh những tác động tích cực tới cơ cấu nền kinh tế quốc dân, sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch trong thời gian qua cũng đã và đang đặt ra những thách thức lớnvà cũng tạo ra những tác động mạnh mẽ trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng du lịch nói riêng và trên địa bàn cả nước nói chung. Theo Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourist Organization – WTO), “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm”.
11 Như vậy theo định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới về du lịch và trong khuôn khổ của thống kê du lịch thì lượng khách du lịch sẽ được tính gồm: (i). Những chuyến đi đến nơi khác môi trường sống thường xuyên của họ, do đó sẽ ít hơn những chuyến đi lại thường xuyên giữa những nơi mà người đó đang ở hoặc nghiên cứu đến một nơi khác nơi cư trú thường xuyên của họ; (ii). Nơi mà người đó đi đến phải dưới 12 tháng liên tục, nếu từ 12 tháng liên tục trở lên sẽ trở thành người cư trú thường xuyên ở nơi đó (theo quan điểm của thống kê); (iii). Mục đích chính của chuyến đi sẽ không phải đến đó để nhận thù lao (hay là để kiếm sống) do đó sẽ loại trừ những trường hợp chuyển nơi cư trú cho mục đích công việc.
Vì thế những người đi với các mục đích sau đây sẽ được tính vào khách du lịch như: đi vào dịp thời gian rỗi, giải trí và các kỳ nghỉ; đi thăm bạn bè, họ hàng; đi công tác; đi điều trị sức khoẻ; đi tu hành hoặc hành hương; đi theo các mục đích tương tự khác. Dựa theo khái niệm này mà khách du lịch được chia làm hai loại là: khách du lịch quốc tế và khách du lịch trong nước. Theo đó, khách du lịch quốc tế là bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi nước người đó cư trú thường xuyên và ngoài môi trường sống thường xuyên của họ với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi là không phải đến đó để dược nhận thù lao (hay nói cách khác là không phải để kiếm sống), không bao gồm các trường hợp sau: (i) Những người đến và sống ở nước này như một người cư trú thường xuyên ở nước đó kể cả những người đi theo sống dựa vào họ; (ii) Những người công nhân cư trú ở gần biên giới nước này nhưng lại làm việc cho một nước khác ở gần biên giới nước đó; 12 (iii) Những nhà ngoại giao, tư vấn và các thành viên lực lượng vũ trang ở nước khác đến theo sự phân công bao gồm cả những người ở và những người đi theo sống dựa vào họ; (iv) Những người đi theo dạng tị nạn hoặc du mục; (v) Những người quá cảnh mà không vào nước đó (chỉ chờ chuyển máy bay ở sân bay) thông qua kiểm tra hộ chiếu như những hành khách transit ở lại trong thời gian rất ngắn ở ga sân bay. Hoặc là những hành khách trên thuyền đỗ ở cảng mà không được phép lên bờ.
Trong đó, khách du lịch trong nước là bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của họ và trong phạm vi nước sở tại với thời gian liên tục dưới 12 tháng và mục đích của chuyến đi là không phải đến đó để dược nhận thù lao (hay nói cách khác là không phải để kiếm sống), như vậy khách trong nước không bao gồm các trường hợp sau: (i) Những người cư trú ở nước này đến một nơi khác với mục đích là cư trú ở nơi đó; (ii) Những người đến một nơi khác và nhận được thù lao từ nơi đó; (iii) Những người đến và làm việc tạm thời ở nơi đó; (iv) Những người đi thường xuyên hoặc theo thói quen giữa các vùng lân cận để học tập hoặc nghiên cứu; (v) Những người du mục và những người không cư trú cố định; (vi) Những chuyến đi diễn tập của các lực lượng vũ trang. Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội cũng như nỗ lực giữa các quốc gia trong quá trình ngày càng thúc đẩy sự hợp tác, giao lưu phát triển; khái niệm du lịch hiện nay theo quan điểm của WTO không chỉ bó hẹp trong phạm vi hoạt động của con người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên với mục đích tham quan các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử trong nước và quốc tế hoặc đi vui chơi giải trí mà ngày càng được mở rộng thêm về quy mô và các loại hình du lịch. Tiếp thu tinh thần đó, Luật Du lịch Việt Nam 13 năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018) đã đưa ra khái niệm về hoạt động du lịch tại khoản 1 Điều 3. Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với các mục đích hợp pháp khác”.
Từ định nghĩa trên có thể thấy, hoạt động du lịch bao gồm những đặc điểm sau: - Thứ nhất, nói tới du lịch là nói tới sự di chuyển của con người từ địa điểm này sang địa điểm khác với những mục đích đa dạng và bằng các phương tiện khác nhau. Sự di chuyển này của con người là liên tục. Vì vậy hoạt động du lịch là không bao giờ ngừng. - Thứ hai, có nhiều chủ thể liên quan tới hoạt động du lịch.
Đó là khách du lịch là các chủ thể tiến hành các dịch vụ liên quan đến du lịch. Xét về bản chất, khách du lịch là những người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến. Đó là những người di chuyển từ nơi ở thường xuyên của mình đến những địa điểm khác nhau với mục đích tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Trong khi đó, các chủ thể tiến hành các dịch vụ liên quan đến du lịch là những tổ chức, cá nhân tiến hành các công việc nhằm tạo điều kiện cho hoạt động du lịch diễn ra quy mô, có tổ chức một cách chuyên nghiệp hoặc đơn giản là trợ giúp, đáp ứng cho các nhu cầu của khách du lịch nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
- Thứ ba, hoạt động du lịch thường diễn ra tại các khu, các điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch. Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017, tài nguyên du lịch là “cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa”. Tài nguyên du lịch tự 14 nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người là các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Có thể thấy nơi diễn ra các hoạt động du lịch thường là những khu vực có giá trị cao về thẩm mĩ, sự đặc sắc về truyền thống văn hóa, về phong tục tập quán, sự đa dạng về sinh thái hay là nơi diễn ra các sự kiến chính trị - kinh tế - văn hóa – xã hội. Chính vì vậy, mặc dù được xác định là “ngành công nghiệp không khói” nhưng do diễn ra tại các khu vực có giá trị cao về văn hóa, thẩm mĩ và môi sinh mà các hoạt động du lịch đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường. Điều này không chỉ xâm hại trực tiếp tới tình hình và chất lượng môi trường và còn gây thiệt hại tới quá trình phát triển kinh tế, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người dân cũng như gây thiệt hại ngược trở lại cho hoạt động du lịch.
Những tác động của hoạt động du lịch tới môi trường 1. Những tác động tích cực của hoạt động du lịch tới môi trường Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”. Theo định nghĩa này, hệ thống môi trường được tạo thành bởi các yếu tố thuộc về môi trường vật chất tự nhiên và các yếu tố môi trường nhân tạo.