CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Nghiên cứu về nợ công bền vững Các nghiên cứu về NCBV tập trung vào ba chủ đề thế nào là NCBV, cách đánh giá NCBV và tác động của NCBV tới các biến số khác trong nền kinh tế. Vì NCBV là yếu tố quan trọng cần xem xét khi các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp các khoản vay cho các chính phủ trên thế giới nên đây là chủ đề mà các tổ chức này rất quan tâm. Theo các tổ chức này, nợ công được coi là bền vững khi các khoản nợ được hoàn trả mà không cần phải có sự điều chỉnh lớn trong ngân sách, chính phủ không cần phải tuyên bố vỡ nợ hoặc đàm phán lại khoản nợ (UNCTAD, 2016; IMF, 2013; ECB, 2012). Ở Việt Nam, theo Luật Quản lý nợ công 2017, nợ công được coi là bền vững nếu các chỉ tiêu an toàn nợ công không bị vi phạm.
Đây cũng là quan điểm thường được sử dụng bởi các nhà hoạch định chính sách (Debrun, 2017). Nhìn chung nợ công ở quy mô càng cao thì càng có nhiều khả năng rơi vào trạng thái kém bền vững. Để đánh giá nợ công có bền vững hay không, các nghiên cứu thường sử dụng phương pháp cây nhị phân của Manasse và Roubini (2005), khung phân tích nợ bền vững (Debt Sustainability Framework - DSF) của IMF và phương pháp kiểm định tính dừng số liệu chuỗi thời gian của nợ công được đề xuất bởi Corsetti và Roubini (1991). Cây nhị phân là phương pháp được sử dụng bởi Manasse và Roubnini (2005) dựa trên quy tắc kinh nghiệm (rule of thumb).
Nghiên cứu sử dụng số liệu quan sát của 47 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 1970 - 2002 để tiến hành xây dựng mô hình cây nhị phân nhằm mục đích phân tích rủi ro về nợ của các nước. Về bản chất cây nhị phân là một chuỗi các tiêu chuẩn (tiêu chuẩn thường là lớn hơn hoặc nhỏ hơn một giá trị ngưỡng) với hai kết cục thỏa mãn hoặc không thỏa mãn tiêu chuẩn tương ứng với hai nhánh của cây nhị phân. Đặc điểm nợ công của từng quốc gia sẽ dẫn dắt các nước lần theo các nhánh đến kết luận cuối cùng về khả năng rơi vào khủng hoảng nợ quốc gia là bao nhiêu phần trăm. Lan (2017), Nursechafia và Muthohharoh (2014) đã sử dụng phương pháp này để đánh giá tình trạng nợ công ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2016 và Indonesia trong giai đoạn 2004 - 2014.
TRG (2020) áp dụng cây nhị phân để đánh khả năng rơi vào tình trạng vỡ nợ của ba nước Argentina, Ecuador và Li-băng. Gabriele (2019), Zenios và Panyi (2021) sau đó đã nâng cấp phương pháp cây nhị phân lên thành hệ thống cảnh báo sớm (Early Warning System - EWS) để cảnh báo rủi ro khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng. Nội dung chi tiết của mô hình 7 cây nhị phân sẽ được phân tích kỹ hơn ở Chương 2 trong phần các phương pháp đánh giá NCBV. Khung nợ bền vững (DSF) là phương pháp đánh giá toàn diện nhất về NCBV tính đến thời điểm này.
DSF là kết quả nghiên cứu chung của IMF và WB từ năm 2000, dành riêng cho các nước thu nhập thấp nhưng hiện nay DSF đã được áp dụng cho cả nền kinh tế mới nổi và phát triển. Trong DSF các biến liên quan đến nợ công sẽ được dự phóng trong khoảng thời gian 5 năm trong hai bối cảnh, bối cảnh tiêu chuẩn và bối cảnh có cú sốc. Sau đó giống như phương pháp cây nhị phân các giá trị dự phóng sẽ được so sánh với một giá trị ngưỡng, nếu vượt quá giá trị ngưỡng theo hướng tiêu cực thì quốc gia đó bị coi là không đáp ứng một tiêu chuẩn. Số lượng tiêu chuẩn không đáp ứng càng nhiều thì mức độ rủi ro càng cao.
Hàng năm, IMF sẽ công bố kết quả đánh giá nợ công các quốc gia thành viên dựa trên khung DSF 2. WB sử dụng kết quả từ đánh giá này sẽ tiến hành phân bổ các khoản vay. Quốc gia có rủi ro thấp sẽ nhận được 100% khoản vay tiêu chuẩn từ WB (thời hạn vay 38 năm, 6 năm ân hạn với lãi suất 3,125%/năm) (Cassimon và cộng sự, 2016). Vì phương pháp này tương đối phức tạp nên thường chỉ được sử dụng bởi các tổ chức để đánh giá riêng cho một hoặc một nhóm nước.
Kappagoda và cộng sự (2004) với sự tài trợ của Ủy bản nghiên cứu thuộc G24 (nhóm 24 quốc gia đang phát triển trong IMF) sử dụng DSF để đánh giá tình trạng nợ công ở các nước trong nhóm G24. Mupunga và Ngundu (2020) của tổ chức AERC và Faure và Guerin (2021) được tài trợ bởi BNP Paribas sử dụng DSF để đánh giá NCBV cho nhóm các nước hạ Sahara, nhóm nước có nhu cầu vay nợ quốc tế lớn nhất trên thế giới. DSF cũng sẽ được phân tích kỹ hơn ở Chương 2 trong phần các phương pháp đánh giá NCBV. Phương pháp tiếp theo kiểm tra nợ công có bền vững hay không dựa trên việc kiểm tra tính dừng của biến nợ công theo chuỗi theo chuỗi thời gian được đề xuất bởi Corsetti và Roubini (1991).
Nếu chuỗi thời gian của nợ công không dừng, nghĩa là tỷ lệ nợ công/GDP liên tục tăng và vượt quá giá trị hiện tại của các khoản thặng dư ngân sách trong tương lai thì nợ công sẽ không bền vững. Có ba cách để khảo sát tính dừng của một chuỗi thời gian: (1) phân tích đồ thị (graphical analysis), (2) giản đồ tự tương quan (correlogram), và (3) kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test). Phân tích đồ thị là một phương pháp đơn giản, mang tính trực quan và không chính thức để kiểm định tính dừng. Thường thì phân tích đồ thị và giản đồ tự tương quan sẽ cho biết một dấu hiệu sơ bộ nào đó để biết một chuỗi có dừng hay không.
Tuy nhiên phương pháp thứ 2 Báo cáo nợ công của từng quốc gia được thực hiện hàng năm dựa trên điều khoản IV trong hiệp định thành lập IMF (Article IV Staff Report). Báo cáo cho Việt Nam được đăng tải tại đường link https://www.org/en/countries/vnm?selectedfilters=Article%20IV%20Staff%20Reports#whatsnew 8 3 - kiểm định nghiệm đơn vị là phương pháp chính xác nhất trong đó phương pháp kiểm định tính dừng ADF (Augmented Dickey-Fuller) hay được sử dụng nhất. Corsetti và Roubini (1991) áp dụng phương pháp chuỗi dừng vào mẫu 18 quốc gia OECD trong giai đoạn 1960 - 1989 và kết luận rằng các quốc gia lớn như Mỹ, Nhật, Đức đạt được mức độ NCBV trong dài hạn trong khi các quốc gia nhỏ hơn trong nhóm như Ireland, Hy Lạp, Bỉ sẽ gặp vấn đề do tỷ lệ nợ công trên GDP đã quá cao. Trehan và Walsh (1991) áp dụng với số liệu nợ công và thâm hụt ngân sách của Mỹ trong giai đoạn 1960 - 1984; Caporale (1995) áp dụng cho các nước EU giai đoạn 1960 - 1991; Makrydakis và cộng sự (1999) áp dụng cho Hy Lạp giai đoạn 1958 - 1995; Greiner và Semmler (1999) áp dụng cho Đức giai đoạn 1955 - 1994 là những ví dụ về việc sử dụng phương pháp chuỗi dừng cho từng quốc gia cụ thể.
Về chủ đề tác động của NCBV tới các biến số vĩ mô khác có thể nói NCBV tác động tới tăng trưởng kinh tế là chủ đề được nhiều nghiên cứu tập trung phân tích nhất. Tuy nhiên do thiếu thước đo tổng hợp về NCBV nên các nghiên cứu thường sử dụng tiêu chí là quy mô nợ công trên GDP, quy mô nợ nước ngoài trên GDP rồi từ đó xem xét tác động tới tăng trưởng. Các nghiên cứu tiêu biểu đánh giá tác động của quy mô nợ công lên tăng trưởng có thể kể đến Reinhart và Rogoff (2010), Checherita và cộng sự (2010), Imbs và Rancierce (2005). Nội dung chi tiết của các nghiên cứu trên sẽ được trình bày trong phần tiếp theo của chương này.
Ngoài ra, quy mô nợ công còn được xem xét trong mối quan hệ với các yếu tố như thể chế, sự phát triển của thị trường tài chính, lạm phát. Chẳng hạn nghiên cứu của Tarek và Ahmed (2017) chỉ ra các quốc gia có chất lượng quản trị công tốt thường có quy mô nợ công thấp và ngược lại. Đồng ý với quan điểm trên, nghiên cứu của của Ibrahim (2021) ở 20 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1996 - 2018 cho thấy tham nhũng làm gia tăng gánh nặng nợ trong dài hạn. Nghiên cứu của Hauner (2008) nhấn mạnh nợ công vừa tác động tích cực lẫn tiêu cực lên sự phát triển của thị trường tài chính khi tạo ra một tài sản có tính thanh khoản cao cho thị trường (trái phiếu chính phủ) nhưng đồng thời cũng khiến các ngân hàng ít chú ý hơn đến các sản phẩm dành cho khu vực tư nhân.
Liên quan đến lạm phát, Aimola và Odhiamo (2020) kết luận rằng tác động của nợ công lên lạm phát khác nhau ở từng quốc gia, có quốc gia tác động làm tăng có quốc gia tác động làm giảm tuy nhiên tác động làm tăng chiếm phần lớn trong các nghiên cứu thực nghiệm. Nhìn chung các nghiên cứu về NCBV trên thế giới và Việt Nam thường sử dụng nhiều biến liên quan đến nợ công, điều đó cho thấy NCBV là một khái niệm có tính tổng hợp, là kết quả của nhiều thành phần. Các biến thành phần này hoặc phải duy trì 9 xu hướng ổn định theo thời gian hoặc phải thấp hơn một ngưỡng giá trị nhất định được lấy dựa trên kinh nghiệm thực tiễn hoặc tính toán hồi quy thì nợ công mới được coi là an toàn. Số lượng các biến thành phần ở trạng thái an toàn càng nhiều thì nợ công được coi là càng bền vững.
Tuy nhiên, hạn chế của các nghiên cứu trên đó là không thể xác định được mức độ NCBV theo thời gian, nói một cách khác kết luận nợ công năm nay có bền vững hơn nợ công năm ngoái hay không, đặc biệt khi các biến liên quan đến nợ công biến động một cách trái chiều sẽ rất khó rút ra nếu chỉ dựa vào các phương pháp đánh giá ở trên. Hệ quả là khi đánh giá tác động của NCBV tới các biến khác trong nền kinh tế, các nghiên cứu thường chỉ sử dụng một hoặc vài tiêu chí của NCBV như quy mô nợ công, tỷ lệ nợ nước ngoài để xem xét tác động của nợ công lên các biến số vĩ mô khác. Và biến số vĩ mô khác được chọn thường là tăng trưởng kinh tế vì mối liên hệ chặt chẽ giữa thu chi ngân sách và tăng trưởng.2 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế 1.