Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nợ công là công cụ tài khóa được các chính phủ sử dụng để tài trợ cho đầu tư cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế và bảo đảm an ninh quốc phòng trong bối cảnh nguồn thu thuế không thể tăng liên tục. Đến năm 2019, tổng nợ công toàn cầu đạt 63.900 tỷ USD, gấp gần 3,5 lần so với năm 2000, với tốc độ tăng trưởng bình quân 6,76%/năm giai đoạn 2000 - 2019 (IMF, 2019). Tại các nền kinh tế phát triển, hơn 1/3 số quốc gia ghi nhận tỷ lệ nợ công vượt 85% GDP; trong khi ở các nước đang phát triển và thu nhập thấp, con số này đạt trung bình 50%, tăng 10% trong giai đoạn 2015 - 2019. Tại Việt Nam, tỷ lệ nợ công/GDP tăng từ 54,5% năm 2013 lên 61,4% năm 2017 và ở mức 58,4% năm 2018; nợ công bình quân đầu người tăng từ 23 triệu VND lên 32 triệu VND (GSO, 2018). Đồng thời, hệ số ICOR của Việt Nam tăng từ 3,5 giai đoạn 1991 - 1995 lên 6,21 năm 2018 (NCIF, 2019).
Khoảng trống nghiên cứu chính được tác giả chỉ ra là phần lớn các công trình thực nghiệm trước đây chỉ xem xét quy mô nợ công qua một chỉ tiêu đơn lẻ (tỷ lệ nợ công/GDP) mà chưa xây dựng được một thước đo tổng hợp phản ánh toàn diện tính bền vững của nợ công (bao gồm quy mô, cấu trúc nợ, khả năng thanh toán và thanh khoản ngắn hạn). Điều này dẫn đến sự thiếu vắng các bằng chứng thực nghiệm lượng hóa mối quan hệ tác động hai chiều giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế trên quy mô toàn cầu cũng như theo từng nhóm nước phân theo thu nhập.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định mối quan hệ giữa nợ công bền vững (NCBV) và tăng trưởng kinh tế (TTKT) ở các nước trên thế giới, từ đó rút ra các hàm ý chính sách liên quan đến vấn đề NCBV cho Việt Nam.
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa NCBV và TTKT.
- Xây dựng phương pháp chỉ số đo lường mức độ NCBV.
- Xác định mô hình kinh tế lượng đánh giá mối quan hệ giữa NCBV và TTKT.
- Đề xuất chính sách và một số giải pháp thực hiện nhằm giải quyết mối quan hệ giữa NCBV và TTKT ở Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa NCBV và TTKT là gì?
- Đo lường mức độ NCBV như thế nào?
- Mối quan hệ giữa NCBV và TTKT trong tổng thể các quốc gia và trong từng nhóm quốc gia diễn ra như thế nào?
- Giải pháp nào giúp Chính phủ Việt Nam củng cố NCBV trong mối quan hệ với TTKT?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế dựa trên số liệu của 151 quốc gia trên thế giới.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu 151 quốc gia trên thế giới, được phân chia thành 4 nhóm theo phân loại thu nhập của Ngân hàng Thế giới (WB):
- Nhóm nước thu nhập cao (HI - High Income): 39 quốc gia.
- Nhóm nước thu nhập trung bình cao (UMI - Upper Middle Income): 39 quốc gia.
- Nhóm nước thu nhập trung bình thấp (LMI - Lower Middle Income): 47 quốc gia.
- Nhóm nước thu nhập thấp (LI - Low Income): 27 quốc gia.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2000 - 2018 (giai đoạn số liệu nợ công được Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF và Ngân hàng Thế giới - WB thu thập, chuẩn hóa đầy đủ và chính thức).
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung đánh giá mối quan hệ kinh tế giữa NCBV và TTKT thông qua các chỉ tiêu tài chính công định lượng, không đi sâu vào các yếu tố chính trị, địa lý hay thể chế phi tài chính.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu chính đã được tổng quan
Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm chủ đề:
-
Nghiên cứu về đo lường và đánh giá tính bền vững của nợ công:
- Phương pháp kiểm định tính dừng (Unit Root Test): Corsetti và Roubini (1991) áp dụng cho 18 quốc gia OECD (1960 - 1989); Trehan và Walsh (1991) áp dụng cho Mỹ (1960 - 1984); Caporale (1995) cho EU (1960 - 1991); Makrydakis và cộng sự (1999) cho Hy Lạp (1958 - 1995); Greiner và Semmler (1999) cho Đức (1955 - 1994).
- Phương pháp Cây nhị phân (Binary Tree): Manasse và Roubini (2005) nghiên cứu 47 nền kinh tế mới nổi (1970 - 2002); Lan (2017) áp dụng cho Việt Nam (2011 - 2016); Nursechafia và Muthohharoh (2014) cho Indonesia (2004 - 2014); TRG (2020) cho Argentina, Ecuador, Li-băng; Gabriele (2019), Zenios và Panyi (2021) phát triển thành Hệ thống cảnh báo sớm (EWS).
- Khung đánh giá bền vững nợ (DSF): Do IMF và WB thiết lập từ năm 2000; được ứng dụng bởi Kappagoda và cộng sự (2004) cho nhóm G24, Mupunga và Ngundu (2020), Faure và Guerin (2021) cho các nước châu Phi hạ Sahara.
-
Nghiên cứu về tác động của tăng trưởng kinh tế lên nợ công bền vững (kiểm chứng tiêu chuẩn IRGD):
- Abbas và cộng sự (2011) khảo sát 178 quốc gia thuộc IMF từ năm 2001, chỉ ra chênh lệch lãi suất - tăng trưởng đóng góp 18,1% vào biến động quy mô nợ ở nhóm 60 nước có nợ trên 60% GDP.
- Westphal (2021) phân tích 12 nước khu vực Euro (1985 - 2017), chỉ ra khi tăng trưởng thấp hơn lãi suất, tỷ lệ nợ/GDP tăng nhanh.
- Barrett (2018), Turner và Spinelli (2012) khảo sát các nước OECD; Shloka (2021) phân tích thực nghiệm tại Ấn Độ khẳng định quan hệ nhân quả từ IRGD tới NCBV.
-
Nghiên cứu về tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế:
- Tác động tuyến tính: Trường phái cổ điển cho rằng nợ công gây hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân và giảm tăng trưởng trong dài hạn (Modigliani, 1961; Friedman, 1988; Elmendorf & Mankiw, 1999; Gale & Orszag, 2003; Baldacci & Kumar, 2010; Kumar & Woo, 2010; Presbitero, 2005). Ngược lại, trường phái Keynes và các nghiên cứu ủng hộ cho rằng nợ công kích cầu và tăng trưởng trong ngắn hạn (Eisner, 1984; Diamond, 1965; Paul, 1992; Abbas & Christensen, 2007; Trung & Toàn, 2014). Tác động của nợ nước ngoài được phân tích bởi Fosu (1996), Karagol (2012), Warner (1992), Taghavi (2000).
- Tác động phi tuyến tính (Ngưỡng nợ công): Reinhart và Rogoff (2010) xác định ngưỡng nợ 90% GDP cho 44 quốc gia; Checherita và Rother (2012) tìm thấy ngưỡng 90 - 100% GDP cho 12 nước châu Âu; Baum và cộng sự (2013) tìm thấy ngưỡng 67% và 95% GDP; Pattillo và cộng sự (2002, 2004) xác định ngưỡng nợ nước ngoài 35 - 40% GDP ở 93 nước đang phát triển; Clements và cộng sự (2003) tìm thấy ngưỡng 20 - 25% GDP cho 55 nước thu nhập thấp; Caner và cộng sự (2010) tìm thấy ngưỡng 77% GDP (toàn cầu) và 64% GDP (nước đang phát triển); Cecchetti và cộng sự (2011) tìm thấy ngưỡng 85% GDP cho OECD; Greenidge và cộng sự (2012) tìm thấy ngưỡng 55 - 56% GDP ở vùng Ca-ri-bê. Tại Việt Nam, Thành (2012) xác định ngưỡng 75,8% GDP; Thạch (2019) xác định ngưỡng 57,6% GDP; Thảo và Vinh (2015) xác định ngưỡng 68% GDP cho 7 nước Đông Nam Á; An và cộng sự (2020) xác định hai ngưỡng 26,96% và 72,53% GDP cho 13 nước châu Á.
- Không có tác động: Trường phái tương đương Ricardo (Barro, 1990; Bernheim, 1989) và các nghiên cứu thực nghiệm không tìm thấy quan hệ có ý nghĩa thống kê (Schlarek, 2004; Panizza & Presbitero, 2014; Pescatori & cộng sự, 2014; Herndon & cộng sự, 2013).
| Hướng tiếp cận |
Tác giả & Năm công bố |
Mẫu nghiên cứu |
Kết quả chính |
| Tuyến tính âm |
Modigliani (1961), Friedman (1988), Kumar & Woo (2010) |
Nhiều quốc gia / OECD |
Nợ công làm tăng lãi suất, lấn át đầu tư tư nhân, giảm tăng trưởng |
| Tuyến tính dương |
Diamond (1965), Eisner (1984), Abbas & Christensen (2007) |
Toàn cầu / Đang phát triển |
Nợ công tài trợ đầu tư công, kích thích tổng cầu và thúc đẩy GDP |
| Phi tuyến tính |
Reinhart & Rogoff (2010) |
44 quốc gia (200 năm) |
Ngưỡng nợ 90% GDP; vượt ngưỡng sẽ tác động tiêu cực |
| Phi tuyến tính |
Caner và cộng sự (2010) |
101 quốc gia |
Ngưỡng 77% GDP chung, 64% GDP cho nước đang phát triển |
| Phi tuyến tính |
Clements và cộng sự (2003) |
55 nước thu nhập thấp |
Ngưỡng nợ nước ngoài 20 - 25% GDP |
| Phi tuyến tính |
Thảo & Vinh (2015), An & cs (2020) |
Đông Nam Á / Châu Á |
Ngưỡng 68% GDP (ASEAN-7); 26,96% và 72,53% GDP (Đông Nam Á + 3) |
| Phi tuyến tính |
Thành (2012), Thạch (2019) |
Việt Nam |
Ngưỡng nợ tối ưu lần lượt là 75,8% GDP và 57,6% GDP |
| Không tác động |
Barro (1990), Panizza & Presbitero (2014) |
Lý thuyết / OECD |
Hiệu ứng tương đương Ricardo; không có ngưỡng nợ vững chắc |
Khoảng trống luận án giải quyết
- Khắc phục hạn chế của việc chỉ dùng biến đơn lẻ (nợ công/GDP) bằng việc xây dựng Chỉ số nợ công bền vững tổng hợp (Debt Sustainability Index - DSI) thông qua phương pháp chuẩn hóa min - max, bao hàm nhiều tiêu chí thành phần về khả năng trả nợ và thanh khoản.
- Lượng hóa mối quan hệ tương tác hai chiều giữa chỉ số NCBV và tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng mô hình véc-tơ tự hồi quy (VAR) và mô hình véc-tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) cho tổng thể 151 quốc gia và phân tách theo 4 nhóm thu nhập.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm
- Khái niệm nợ công bền vững: Theo IMF (2013), WB, UNCTAD (2016) và ECB (2012), nợ công được coi là bền vững khi một quốc gia có khả năng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nợ hiện tại và tương lai mà không cần sự điều chỉnh lớn bất thường trong thu, chi ngân sách nhà nước, không rơi vào trạng thái vỡ nợ hoặc phải tái cơ cấu nợ.
- Hai trụ cột đánh giá NCBV:
- Khả năng trả nợ (Solvency): Phản ánh qua tiêu chuẩn IRGD (chênh lệch giữa tốc độ TTKT và lãi suất thực), tỷ lệ nợ công/GDP, tỷ lệ nợ công/tổng thu ngân sách, tỷ lệ nợ nước ngoài/tổng nợ công.
- Khả năng thanh khoản (Liquidity): Phản ánh qua tỷ lệ nợ công ngắn hạn/tổng nợ công, tỷ lệ nợ công nước ngoài ngắn hạn/tổng nợ công ngắn hạn, tỷ lệ nợ công ngắn hạn/tổng thu ngân sách, tỷ lệ nợ công nước ngoài ngắn hạn/dự trữ ngoại hối, tỷ lệ nợ công nước ngoài ngắn hạn/kim ngạch xuất khẩu.
- Ngưỡng nợ công tối ưu và trần nợ công:
- Ngưỡng nợ công tối ưu: Điểm quy mô nợ mà tại đó tăng trưởng kinh tế đạt mức tối đa và chính sách tài khóa bảo đảm an toàn. Vượt qua ngưỡng này, tăng trưởng bắt đầu suy giảm.
- Trần nợ công (ngưỡng chịu đựng): Giới hạn tối đa mà vượt qua đó, quốc gia đối mặt với nguy cơ mất khả năng chi trả và rơi vào khủng hoảng nợ hoặc vỡ nợ.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp xây dựng Chỉ số Nợ công bền vững (DSI):
- Tác giả áp dụng kỹ thuật chuẩn hóa min - max để đưa các chỉ số thành phần có đơn vị đo lường và thang đo khác nhau về cùng thang điểm chuẩn hóa từ 0 đến 1 (hoặc theo khung điểm phân tích).
- Tích hợp các chỉ số thành phần đại diện cho khả năng trả nợ và tính thanh khoản thành một chỉ số tổng hợp DSI cho từng quốc gia theo từng năm.
- Phương pháp kinh tế lượng:
- Kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu (kiểm định ADF - Augmented Dickey-Fuller).
- Kiểm định đồng liên kết (Cointegration test).
- Sử dụng Mô hình Véc-tơ tự hồi quy (VAR) đối với các chuỗi dừng cùng bậc không có đồng liên kết hoặc Mô hình Véc-tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) khi tồn tại quan hệ đồng liên kết.
- Phân tích Hàm phản ứng xung (Impulse Response Function - IRF) và Phân rã phương sai (Variance Decomposition) để đánh giá chiều hướng, cường độ và độ trễ tác động qua lại giữa DSI và tốc độ tăng trưởng kinh tế ($g$).
- Nguồn dữ liệu:
- Thu thập từ cơ sở dữ liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) trong giai đoạn 2000 - 2018 cho 151 quốc gia.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế
Chương 1 tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về 3 nội dung trọng tâm: bản chất và phương pháp đánh giá NCBV (kiểm định tính dừng, cây nhị phân, khung DSF), tác động của tăng trưởng kinh tế đến NCBV thông qua tiêu chuẩn IRGD, và tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế (theo các trường phái tuyến tính, phi tuyến tính ngưỡng nợ và phi tác động). Tác giả chỉ rõ hạn chế của các nghiên cứu trước đây là thiếu một chỉ số đo lường NCBV tổng hợp để phân tích tương tác định lượng với tăng trưởng kinh tế, từ đó xác định khoảng trống mà luận án tập trung giải quyết.
Chương 2: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế
Chương 2 làm rõ các khái niệm nợ công, nợ công bền vững, phân biệt giữa ngưỡng nợ công tối ưu và trần nợ công. Luận án phân tích sâu hai khía cạnh cấu thành tính bền vững tài khóa là khả năng trả nợ (solvency) và khả năng thanh khoản (liquidity), cùng các chỉ số đo lường tương ứng. Chương này cũng phân tích các lý thuyết kinh tế giải thích cơ chế truyền dẫn tác động hai chiều giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế (trường phái Cổ điển, trường phái Keynes, thuyết Tương đương Ricardo), cung cấp nền tảng lý luận cho việc lượng hóa chỉ số DSI và thiết lập các giả thuyết nghiên cứu ở chương tiếp theo.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình tính toán Chỉ số nợ công bền vững (DSI) dựa trên phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn (Multi-Criteria Analysis - MCA) và kỹ thuật chuẩn hóa min - max cho các biến số thành phần. Chương này cũng thiết lập khung mô hình kinh tế lượng gồm mô hình VAR và VECM, quy trình kiểm định tính dừng chuỗi thời gian, lựa chọn độ trễ tối ưu, kiểm định đồng liên kết, ước lượng hệ số, phân tích hàm phản ứng xung (IRF) và phân rã phương sai nhằm đánh giá động thái tương tác giữa biến tăng trưởng kinh tế ($g$) và chỉ số nợ công bền vững ($DSI$).
Chương 4: Mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế
Chương 4 trình bày kết quả thực nghiệm tính toán chỉ số DSI và ước lượng mô hình kinh tế lượng:
- Kết quả tính toán DSI: Luận án xếp hạng Top 10 quốc gia có DSI tốt nhất thế giới giai đoạn 2000 - 2018, đồng thời phân tích mức độ đóng góp của từng chỉ số thành phần vào chỉ số tổng hợp DSI bình quân toàn cầu và theo 4 nhóm thu nhập (HI, UMI, LMI, LI). Phân tích mô tả cho thấy DSI và tăng trưởng kinh tế có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm nước và một số quốc gia điển hình (Mỹ, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ, Campuchia).
- Kết quả ước lượng mô hình:
- Mẫu tổng thể 151 quốc gia: Kết quả VAR/VECM, bảng phân rã phương sai và đồ thị hàm phản ứng xung chỉ ra các phản ứng động giữa DSI và $g$.
- Kết quả theo từng nhóm thu nhập:
- Nhóm thu nhập cao (HI): Tồn tại tác động một chiều từ tăng trưởng kinh tế lên DSI. Tăng trưởng kinh tế gia tăng trong ngắn hạn giúp cải thiện DSI, nhưng ở các độ trễ xa hơn, tăng trưởng lại có tác động tiêu cực lên DSI. Không phát hiện tác động có ý nghĩa từ DSI lên tăng trưởng.
- Nhóm thu nhập trung bình cao (UMI): Tồn tại tác động một chiều từ DSI lên tăng trưởng kinh tế. Gia tăng NCBV (DSI tăng) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngay sau 1 năm.
- Nhóm thu nhập trung bình thấp (LMI): Tồn tại tác động một chiều từ DSI lên tăng trưởng kinh tế. Việc gia tăng nợ công bền vững (thắt chặt tài khóa để tăng DSI) lại tạo ra tác động tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế.
- Nhóm thu nhập thấp (LI): Tồn tại tác động một chiều từ tăng trưởng kinh tế lên DSI, theo đó tăng trưởng kinh tế giúp củng cố và nâng cao chỉ số NCBV.
- Kết quả tổng quát: Không tồn tại quan hệ nhân quả hai chiều đồng thời giữa NCBV và TTKT trong cả 4 nhóm nước.
Chương 5: Hàm ý chính sách cho Việt Nam
Chương 5 phân tích thực trạng nợ công và quan hệ giữa DSI với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2018 (cơ cấu nợ theo cấp quản lý, cơ cấu nợ trong nước/nước ngoài, kỳ hạn và lãi suất bình quân trái phiếu Chính phủ). Từ các kết quả ước lượng thực nghiệm cho nhóm nước thu nhập trung bình thấp (LMI) mà Việt Nam là thành viên, tác giả đề xuất 3 nhóm hàm ý và giải pháp:
- Mở rộng và nâng cấp hệ thống chỉ số quản lý nợ công: Áp dụng chỉ số tổng hợp DSI và theo dõi chi tiết từng chỉ số thành phần để phục vụ đánh giá rủi ro tài khóa đa chiều.
- Điều chỉnh nợ công bền vững linh hoạt theo chu kỳ kinh tế: Nâng cao NCBV trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng ổn định; chấp nhận suy giảm NCBV trong ngắn hạn ở thời kỳ suy thoái để tạo không gian tài khóa thực hiện các gói kích cầu phục hồi kinh tế.
- Cải cách thể chế quản lý nợ công: Tối ưu hóa mô hình quản lý nợ phù hợp với từng giai đoạn phát triển, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và nâng cao hiệu quả giải ngân vốn vay.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và phương pháp
- Xây dựng phương pháp chỉ số nợ công bền vững (DSI) dựa trên chuẩn hóa min - max, cho phép tổng hợp nhiều khía cạnh định lượng (quy mô, cấu trúc, khả năng trả nợ và thanh khoản ngắn hạn) thành một thang đo thống nhất, khắc phục hạn chế đánh giá đơn biến trong các nghiên cứu trước.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tính đặc thù trong cơ chế tác động giữa NCBV và TTKT theo 4 nhóm thu nhập của WB, chỉ ra sự phi đối xứng trong chiều tác động giữa các nhóm nước.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Chỉ ra rằng trong nhóm nước thu nhập trung bình thấp (LMI), việc nâng cao NCBV có thể tạo ra tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn do thu hẹp chi tiêu đầu tư công; trong khi ở nhóm thu nhập trung bình cao (UMI), nâng cao NCBV lại thúc đẩy tăng trưởng ngay sau 1 năm.
- Cung cấp cơ sở định lượng để các cơ quan quản lý nợ công tại Việt Nam tham khảo chỉ số DSI như một công cụ hỗ trợ ra quyết định phân bổ và quản lý rủi ro nợ công.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất cho Việt Nam
- Thực hiện chính sách tài khóa nghịch chu kỳ: Tích lũy không gian tài khóa và củng cố các chỉ số an toàn nợ trong giai đoạn kinh tế mở rộng; chủ động mở rộng nợ công có kiểm soát để hỗ trợ tăng trưởng khi kinh tế đối mặt với các cú sốc suy thoái.
- Tái cơ cấu danh mục nợ công: Tiếp tục nâng cao tỷ trọng nợ vay trong nước thông qua phát hành trái phiếu chính phủ kỳ hạn dài với lãi suất ổn định, giảm tỷ trọng nợ nước ngoài nhằm hạn chế rủi ro tỷ giá và thanh khoản ngoại tệ.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay: Kiểm soát hệ số ICOR, tập trung vốn vay công vào các công trình hạ tầng trọng điểm có tính lan tỏa kinh tế cao nhằm bảo đảm năng lực trả nợ trong dài hạn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Nghiên cứu giới hạn phạm vi thu thập dữ liệu trong giai đoạn 2000 - 2018 do số liệu nợ công toàn diện của IMF/WB cho 151 quốc gia chỉ được hoàn thiện đầy đủ đến năm 2018; số liệu các năm 2019 - 2020 bị thiếu hụt ở nhiều quốc gia.
- Chỉ số DSI tập trung lượng hóa các tiêu chí kinh tế - tài chính công định lượng (khả năng trả nợ, thanh khoản), chưa tích hợp trực tiếp các biến phi tài chính như chất lượng thể chế chính trị, tham nhũng hay chỉ số quản trị quốc gia vào công thức chỉ số tổng hợp.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng chuỗi số liệu cập nhật sau năm 2018 khi dữ liệu thống kê chính thức của các tổ chức quốc tế được công bố đầy đủ cho các quốc gia thành viên.
- Thử nghiệm tích hợp thêm các trọng số động hoặc các yếu tố thể chế, chỉ số CPIA (Country Policy and Institutional Assessment) vào quá trình lượng hóa chỉ số nợ công bền vững.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội): Luận án cung cấp khung phương pháp chỉ số DSI và các tiêu chí phân tích cấu trúc nợ giúp theo dõi, giám sát rủi ro thanh khoản và khả năng trả nợ toàn diện hơn quy tắc trần nợ đơn lẻ.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh ngành Kinh tế quốc tế và Tài chính công: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận ứng dụng mô hình VAR/VECM kết hợp phân tích chỉ số tổng hợp min - max trong nghiên cứu tài chính vĩ mô quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xây dựng Chỉ số Nợ công bền vững (DSI) dựa trên phương pháp nào?
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn kết hợp kỹ thuật chuẩn hóa min - max. Kỹ thuật này chuẩn hóa các tiêu chí thành phần về khả năng trả nợ (solvency) và khả năng thanh khoản (liquidity) về cùng một thang đo không thứ nguyên, sau đó tổng hợp thành chỉ số DSI để đo lường mức độ bền vững nợ của từng quốc gia qua các năm.
2. Mối quan hệ giữa NCBV và TTKT ở nhóm nước thu nhập trung bình thấp (LMI) có kết quả như thế nào?
Ở nhóm nước LMI, kết quả mô hình VAR/VECM cho thấy tồn tại tác động một chiều từ NCBV (DSI) lên tăng trưởng kinh tế, nhưng tác động này mang chiều hướng tiêu cực. Điều này phản ánh việc thắt chặt chi tiêu để củng cố các chỉ số an toàn nợ ở các nước có nguồn lực hạn chế có thể làm suy giảm quy mô đầu tư phát triển, từ đó kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế.
3. Chiều tác động giữa hai biến số này ở nhóm nước thu nhập cao (HI) diễn ra ra sao?
Ở nhóm nước HI, mô hình chỉ tìm thấy tác động một chiều từ tăng trưởng kinh tế lên DSI. Trong ngắn hạn, tăng trưởng kinh tế cao giúp cải thiện DSI; tuy nhiên, khi xét ở các độ trễ thời gian dài hơn, tăng trưởng kinh tế lại ghi nhận tác động tiêu cực lên tính bền vững của nợ công.
4. Có tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều đồng thời giữa NCBV và TTKT không?
Không. Kết quả ước lượng mô hình VAR/VECM trên cả 4 nhóm nước (HI, UMI, LMI, LI) đều khẳng định không tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều đồng thời giữa NCBV và TTKT; mỗi nhóm nước chỉ ghi nhận tác động một chiều (từ TTKT sang NCBV ở nhóm HI và LI; từ NCBV sang TTKT ở nhóm UMI và LMI).
5. Vì sao nghiên cứu sử dụng khung thời gian 2000 - 2018?
Năm 2000 là thời điểm IMF và WB bắt đầu chương trình đánh giá chung HIPCs và tổng hợp dữ liệu nợ công có hệ thống cho các quốc gia thành viên. Năm 2018 là năm gần nhất tại thời điểm nghiên cứu có số liệu nợ công được các quốc gia báo cáo đầy đủ và chuẩn hóa chính thức; các năm 2019 và 2020 thiếu hụt dữ liệu ở nhiều nước.
Kết luận
Luận án của NCS. Phạm Xuân Trường đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm bằng việc xây dựng Chỉ số nợ công bền vững (DSI) tổng hợp từ các tiêu chí khả năng trả nợ và thanh khoản cho 151 quốc gia giai đoạn 2000 - 2018. Kết quả ước lượng mô hình VAR/VECM chứng minh mối quan hệ giữa NCBV và tăng trưởng kinh tế có tính đặc thù rõ rệt theo từng nhóm thu nhập và không có quan hệ nhân quả hai chiều đồng thời. Dựa trên các phát hiện thực nghiệm đối với nhóm nước thu nhập trung bình thấp, luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc điều hành chính sách tài khóa linh hoạt nghịch chu kỳ và nâng cao năng lực quản lý nợ công tại Việt Nam.