Nngcaochsnnglccnhtranhcptnhchotnhbcgiang 220825064101 31e38b03

Khám phá nội dung bài viết về Nngcaochsnnglccnhtranhcptnhchotnhbcgiang, cung cấp thông tin chi tiết và phân tích sâu sắc về chủ đề này.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

85
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

1.1.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước

1.1.2. Năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách hệ thống lại được bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những năm 1980 đến nay

1.1.3. Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các nhà kinh tế người Anh là Buckley, Pass và Prescott, đến năm 1988 có rất ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh được chấp nhận

1.1.4. Porter - một chuyên gia uy tín trên thế giới về năng lực cạnh tranh lại chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận một cách thống nhất

1.1.5. Năm 1996, Waheeduzzan và các cộng sự cho rằng "Năng lực canh tranh vẫn là một trong những khái niệm được hiểu thiếu đầy đủ" (Misunderstood concept)

1.1.6. Cho đến năm 2004, Henricsson và các cộng sự chỉ rõ rằng khái niệm năng lực canh tranh vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế và các nhà báo

1.1.7. Có nhiều hội thảo liên quan đến năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đã được công bố nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp một số ít các nhà nghiên cứu về các lĩnh vực có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của vùng địa phương

1.1.8. Tổng luận tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, một số tác giả như Thorne (2002), Momay (2005), Flanagan và cộng sự (2007) đã chỉ ra rằng, bắt đầu từ những năm 1990 đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bước vào thời kỳ "bùng nổ" với số lượng công trình nghiên cứu được công bố rất lớn

1.1.9. Qua nghiên cứu của NCS chia thành các quan niệm sau

1.1.9.1. NLCT theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh truyền thống
1.1.9.2. Lý thuyết cạnh tranh truyền thống với các trường phái nghiên cứu nổi tiếng như: Kinh tế học Chamberlin, Một nhà kinh tế người Mỹ nổi tiếng với Lý thuyết cạnh tranh độc quyền (1933)
1.1.9.3. Trong lý thuyết này, ông đã phân tích tình hình thị trường giữa cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền độc lập với công trình ở Anh của Joaobinson
1.1.9.4. Ông cho rằng các hãng cạnh tranh với nhau vì cầu nối với sản phẩm của họ bị tác động bởi sự tồn tại của các hãng khác, nhưng mỗi hãng lại có mức độ độc quyền nào đó vì chúng có các sản phẩm riêng mình
1.1.9.5. Cạnh tranh có thể dưới dạng cạnh tranh sản phẩm, trong đó quảng cáo rất quan trọng cũng như đối với cạnh tranh bằng giá vậy
1.1.9.6. Chanberlin nhấn mạnh tính biến dị sản phẩm đối lập với sự không hoàn hảo của thị trường, bao gồm yếu tố như tên nhãn mác, chất lượng đặc biệt, mẫu, bao bì và dịch vụ bán hàng
1.1.9.7. Một trong những kết luận nổi lên từ sự phân tích của ông là cạnh tranh độc quyền có thể có đặc trưng thừa năng lực, một kết quả bị thách thức vì nó có vẻ phụ thuộc vào giả định rằng tất cả thành viên của một nhóm hoạt động dưới những điều kiện chi phí giống nhau
1.1.9.8. Kinh tế học tổ chức (Industrial Organization economics - IO) nhận định rằng Một ngành khoa học thuộc kinh tế học, liên quan với hoạt động thuộc hệ thống giá
1.1.9.9. Kinh tế học công nghiệp khảo sát sự liên hệ lẫn nhau giữa cơ cấu thị trường, hướng dẫn thị trường và thao tác thị trường, bằng cách sử dụng phân tích mô hình của lý thuyết thị trường

1.2. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang

2.2. Các điều kiện tự nhiên của tỉnh

2.3. Đặc điểm kinh tế, xã hội. Các khu công nghiệp và đô thị

2.4. Tăng trưởng kinh tế

2.5. Cơ cấu ngành kinh tế

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.6.1. Quy trình nghiên cứu

2.6.2. Lựa chọn nội dung nghiên cứu

2.6.3. Cách tiếp cận nghiên cứu

2.6.4. Chọn mẫu điều tra

2.6.5. Dữ liệu sử dụng: Luận án sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp

2.6.6. Phương pháp xử lý và tổng hợp dữ liệu

2.6.7. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

2.6.8. Phương pháp phân tích dữ liệu

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH CỦA TỈNH BẮC GIANG QUA GIAI ĐOẠN 2006-2017

3.1. Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Bắc Giang giai đoạn 2006-2017

3.2. So sánh tỉnh Bắc Giang với các tỉnh trong phạm vi cả nước và trong khu vực các tỉnh Miền núi phía Bắc

3.3. Kết quả khảo sát sơ bộ các chuyên gia là các nhà quản lý và của các doanh nghiệp

3.4. Về xếp hạng các chỉ số thành phần cấu thành năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

3.5. Phân tích nhân tố đưa vào nghiên cứu tìm nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả đánh giá các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại tỉnh Bắc Giang bị thấp và giảm điểm

3.6. Kiểm định thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha. Đối với nhóm chỉ số NLCT cấp tỉnh thấp điểm

3.7. Đối với nhóm chỉ số NLCT cấp tỉnh giảm điểm

3.8. Đánh giá chung các nguyên nhân ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh bị giảm điểm và thấp điểm

3.9. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH CỦA TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2018 - 2025

4.1. Định hướng phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018-2025

4.2. Những cơ hội và thách thức

4.3. Định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018-2025

4.4. Các giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018-2025

4.4.1. Giải pháp cho nhóm chỉ số thấp điểm

4.4.2. Giải pháp cho nhóm chỉ số giảm điểm

4.4.3. Các giải pháp đối với doanh nghiệp nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

4.4.4. Các giải pháp nhằm tăng cường năng lực tài chính của doanh nghiệp

4.4.5. Xây dựng chiến lược nguồn nhân lực

4.4.6. Liên kết trong kinh doanh

4.5. Kết luận chương 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Bắc Giang

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (NLCT) là một công cụ quan trọng để đánh giá khả năng thu hút đầu tư và phát triển kinh tế của các địa phương. Tỉnh Bắc Giang, với vị trí địa lý chiến lược, cần nâng cao chỉ số NLCT để phát huy tiềm năng và thế mạnh của mình. Việc cải thiện chỉ số này không chỉ giúp tăng cường sức cạnh tranh mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.

1.1. Khái niệm và vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh

Chỉ số NLCT phản ánh môi trường kinh doanh và khả năng cạnh tranh của tỉnh. Nó được xem như một thước đo quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển kinh tế và thu hút đầu tư.

1.2. Tình hình hiện tại của chỉ số NLCT tại Bắc Giang

Trong giai đoạn 2006-2017, chỉ số NLCT của Bắc Giang đã có những biến động đáng kể. Mặc dù có những cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều chỉ số bị đánh giá thấp, cần có giải pháp cụ thể để nâng cao.

II. Những thách thức trong việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh tại Bắc Giang

Bắc Giang đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao chỉ số NLCT. Các vấn đề như thủ tục hành chính phức tạp, thiếu minh bạch trong quản lý, và sự cạnh tranh từ các tỉnh lân cận đang gây khó khăn cho tỉnh trong việc cải thiện chỉ số này.

2.1. Thủ tục hành chính và sự minh bạch

Thủ tục hành chính phức tạp và thiếu minh bạch là một trong những nguyên nhân chính làm giảm điểm số NLCT của Bắc Giang. Cần có cải cách mạnh mẽ để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

2.2. Cạnh tranh từ các tỉnh lân cận

Sự cạnh tranh từ các tỉnh như Bắc Ninh và Quảng Ninh đang tạo áp lực lớn lên Bắc Giang. Việc cải thiện chỉ số NLCT là cần thiết để giữ vững vị thế trong khu vực.

III. Phương pháp cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Bắc Giang

Để nâng cao chỉ số NLCT, Bắc Giang cần áp dụng các phương pháp cải tiến hiệu quả. Các giải pháp như cải cách thủ tục hành chính, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, và phát triển hạ tầng sẽ giúp cải thiện môi trường kinh doanh.

3.1. Cải cách thủ tục hành chính

Cải cách thủ tục hành chính là một trong những giải pháp quan trọng nhất. Việc đơn giản hóa quy trình và tăng cường tính minh bạch sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ.

3.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt để nâng cao NLCT. Cần có các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Bắc Giang

Nghiên cứu về chỉ số NLCT tại Bắc Giang đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Các ứng dụng thực tiễn từ các mô hình thành công ở các tỉnh khác có thể được áp dụng để cải thiện tình hình tại Bắc Giang.

4.1. Mô hình thành công từ các tỉnh khác

Các tỉnh như Bắc Ninh và Quảng Ninh đã có những mô hình thành công trong việc nâng cao NLCT. Bắc Giang có thể học hỏi và áp dụng những kinh nghiệm này.

4.2. Kết quả khảo sát và đánh giá

Kết quả khảo sát cho thấy nhiều doanh nghiệp tại Bắc Giang vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ và thông tin. Cần có các biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho chỉ số năng lực cạnh tranh Bắc Giang

Việc nâng cao chỉ số NLCT là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết cho sự phát triển bền vững của Bắc Giang. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp để thực hiện các giải pháp đã đề ra.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao NLCT

Nâng cao NLCT không chỉ giúp Bắc Giang thu hút đầu tư mà còn tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Bắc Giang cần xác định rõ các mục tiêu và định hướng phát triển cụ thể để nâng cao chỉ số NLCT trong giai đoạn tới, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Nngcaochsnnglccnhtranhcptnhchotnhbcgiang 220825064101 31e38b03

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, danh mục và tài liệu tham khảo, luận án kết cấu gồm 4 chƣơng chính: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và cơ sở lý luận về nâng cao chỉ số nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Chƣơng 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006-2017. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018-2025. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1.

Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách hệ thống lại đƣợc bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những năm 1980 đến nay. Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các nhà kinh tế ngƣời Anh là Buckley, Pass và Prescott, đến năm 1988 có rất ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh đƣợc chấp nhận. Porter - một chuyên gia uy tín trên thế giới về năng lực cạnh tranh lại chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chƣa đƣợc hiểu một cách đầy đủ và chƣa có một định nghĩa nào đƣợc chấp nhận một cách thống nhất.

Năm 1996, Waheeduzzan và các cộng sự cho rằng "Năng lực canh tranh vẫn là một trong những khái niệm đƣợc hiểu thiếu đầy đủ" (Misunderstood concept). Cho đến năm 2004, Henricsson và các cộng sự chỉ rõ rằng khái niệm năng lực canh tranh vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế và các nhà báo. Có nhiều hội thảo liên quan đến năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đã đƣợc công bố nhƣng hầu hết các nhà nghiên cứu đều nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp một số ít các nhà nghiên cứu về các lĩnh vực có ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của vùng địa phƣơng. Tổng luận tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, một số tác giả nhƣ Thorne (2002), Momay (2005), Flanagan và cộng sự (2007) đã chỉ ra rằng, bắt đầu từ những năm 1990 đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bƣớc vào thời kỳ "bùng nổ" với số lƣợng công trình nghiên cứu đƣợc công bố rất lớn.

Qua nghiên cứu của NCS chia thành các quan niệm sau: * NLCT theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh truyền thống Lý thuyết cạnh tranh truyền thống với các trƣờng phái nghiên cứu nổi tiếng nhƣ: Kinh tế học Chamberlin, Một nhà kinh tế ngƣời Mỹ nổi tiếng với Lý thuyết cạnh tranh độc quyền (1933). Trong lý thuyết này, ông đã phân tích tình hình thị 6 trƣờng giữa cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền độc lập với công trình ở Anh của Joaobinson. Ông cho rằng các hãng cạnh tranh với nhau vì cầu nối với sản phẩm của họ bị tác động bởi sự tồn tại của các hãng khác, nhƣng mỗi hãng lại có mức độ độc quyền nào đó vì chúng có các sản phẩm riêng mình. Cạnh tranh có thể dƣới dạng cạnh tranh sản phẩm, trong đó quảng cáo rất quan trọng cũng nhƣ đối với cạnh tranh bằng giá vậy.

Chanberlin nhấn mạnh tính biến dị sản phẩm đối lập với sự không hoàn hảo của thị trƣờng, bao gồm yếu tố nhƣ tên nhãn mác, chất lƣợng đặc biệt, mẫu, bao bì và dịch vụ bán hàng. Một trong những kết luận nổi lên từ sự phân tích của ông là cạnh tranh độc quyền có thể có đặc trƣng thừa năng lực, một kết quả bị thách thức vì nó có vẻ phụ thuộc vào giả định rằng tất cả thành viên của một nhóm hoạt động dƣới những điều kiện chi phí giống nhau. Kinh tế học tổ chức (Industrial Organization economics - IO) nhận định rằng Một ngành khoa học thuộc kinh tế học, liên quan với hoạt động thuộc hệ thống giá. Kinh tế học công nghiệp khảo sát sự liên hệ lẫn nhau giữa cơ cấu thị trƣờng, hƣớng dẫn thị trƣờng và thao tác thị trƣờng, bằng cách sử dụng phân tích mô hình của lý thuyết thị trƣờng Lý thuyết cạnh tranh trên cơ sở kinh tế học IO (Porter, 1980), Kinh doanh chủ yếu vào cơ cấu ngành mà doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau.

Cơ cấu của ngành sẽ quyết định đến hành vi chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp và điều này sẽ dẫn đến kết quả kinh doanh ngành. Lý thuyết môi trƣờng kinh doanh (Baney,1991). Tuy nhiên, khi môi trƣờng kinh doanh thay đổi và có tác động đến chiến lƣợc kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của DN trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thƣờng có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh bắt chƣớc, hoặc mua bán trên thị trƣờng nguồn lực. Kinh tế học tổ chức và kinh tế độc quyền phân tích NLCT trong điều kiện mất cân bằng của thị trƣờng và nền kinh tế độc quyền với giả định DN có lợi thế tuyệt đối về các tài sản, nguồn lực.

Do vậy, trong môi trƣờng kinh doanh thay đổi nhanh chóng thì các điều kiện về chí phí, công nghệ, quy mô,. đã không còn là lợi thế của DN. Mặt khác, đối tƣợng phân tích của kinh tế học tổ chức và cạnh tranh độc quyền đều hƣớng tới các ngành kinh doanh với giả định là các DN trong cùng 7 ngành có điều kiện về tài sản, nguồn lực đồng nhất. Đây là hạn chế lớn nhất trong việc giải thích lợi thế cạnh tranh của các DN trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay.

* NLCT theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh cổ điển Chủ nghĩa tự do kinh tế cổ điển ra đời ở Anh vào thế kỷ XVIII mà nhân vật đại biểu kiệt xuất là Adam Smith và David Ricardo. Trong tác phẩm “Nghiên cứu tính chất và nguồn gốc của cải của quốc dân” hay còn gọi là “Quốc phú luận” đề cập đến năng lực cạnh tranh toàn cầu xuất bản năm 1776 với tƣ tƣởng tự do kinh tế trong đó có tƣ tƣởng tự do cạnh tranh. Adam Smith là nhà kinh tế chính trị học và triết gia đạo đức học lớn ngƣời Scotland (1723-1790). Trong tác phẩm “Quốc phú luận”, tác giả cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi cho xã hội.

Vì sự cạnh tranh trong quá trình của cải quốc dân tăng lên chủ yếu diễn ra thông qua thị trƣờng và giá cả, do đó, cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với cơ chế thị trƣờng. Theo Smith, “Nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau, thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác”, “Cạnh tranh và thi đua thƣờng tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Ngƣợc lại, chỉ có mục đích lớn lao nhƣng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra đƣợc bất kỳ sự cố gắng lớn nào”. Cũng trong một tác phẩm khác của mình là “Sự giàu có của các quốc gia” xuất bản năm 1776.

Đƣợc công nhận là tác giả khái niệm lợi thế tuyệt đối với tác phẩm này. Trong đó nói rằng mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối. David Ricardo nhà kinh tế học ngƣời Anh (1772-1823) với tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khoá” đã phát triển lý thuyết của Adam Smith thành lý thuyết về lợi thế so sánh. Lý thuyết này cho rằng một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tƣơng đối so với quốc gia kia.

Mỗi quốc gia mỗi ngành có lợi thế so sánh về tài nguyên khác nhau, công nghệ khác nhau. Do đó có thể sản xuất và bán những sản phẩm mình có lợi thế hơn và thông qua ngoại thƣơng nhập những mặt hàng mình kém ƣu thế hơn. Adam smith và David Ricardo chỉ rõ giá trị và giá trị sử dụng hàng 8 hóa và chính 2 yếu tố này quyết định đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa [David Ricardo, 1817]. * NLCT theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển Trƣờng phái tân cổ điển ủng hộ tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp của nhà nƣớc vào kinh tế, tin tƣởng cơ chế thị trƣờng sẽ tự điều tiết nền kinh tế thăng bằng cung cầu và có hiệu quả.

Lý luận về cạnh tranh hoàn hảo của trƣờng phái Tân cổ điển cuối thế kỷ XIX, đại biểu là W.Jevons (1835-1882), theo lý thuyết của ông thì thu nhập và của cải đƣợc phân phối đều khắp, nhà nƣớc không phải nhúng tay vào và các doanh nghiệp phải tự nó cạnh tranh với nhau. Quy luật năng suất lao động của John Bates Clark, theo ông lợi ích của lao động thể hiện ở năng suất lao động (ích lợi của các yếu tố sản xuất thể hiện ở năng suất của nó). Song năng suất lao động của các yếu tố là giảm sút (bất tƣơng sứng). Do vậy, đơn vị yếu tố sản xuất đƣợc sử dụng sau cùng là đơn vị yếu tố sản xuất giới hạn - sản phẩm của nó là sản phẩm giới hạn, năng suất của nó là năng suất giới hạn, nó quyết định đến tất cả năng suất của tất cả các yếu tố sản xuất khác.

Lý thuyết hệ thống sản xuất: Tính nhất quán và những động thái của A. Mashall (1842-1924), Trong tác phẩm “Những nguyên lí kinh tế chính trị học” của ông, A. Marshall đã nhận diện những tính kinh tế bên ngoài đƣợc ông đối lập với những tính kinh tế bên trong của doanh nghiệp. Khái niệm tính kinh tế bên ngoài thật ra có hai thiên hƣớng.

Một mặt vấn đề là giải thích rằng qui luật lợi tức giảm dần ở cấp độ mỗi doanh nghiệp dẫn đến việc giới hạn quy mô của doanh nghiệp có thể tƣơng thích với sự tăng trƣởng chung của nền kinh tế. Mặt khác phải giải thích những lí do thúc đẩy các doanh nghiệp chuyên môn hoá về cùng một nghề, do đó trực tiếp trở thành cạnh tranh nhau, tập hợp nhau lại trên cùng một lãnh thổ thay vì ở rải rác xa nhau. Sự phụ thuộc lẫn nhau này giữa các doanh nghiệp kéo theo là quyết định của mỗi tác nhân làm phát sinh những hiệu ứng mà doanh nghiệp không đƣa vào trong những tính toán cá thể và riêng tƣ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ