Chương 1: Nền tảng khái niệm Trong chương này, giới thiệu ngắn gọn về các yếu tố ảnh hưởng, trình bày chung về khái niệm, vai trò của các yếu tố. Ngoài ra, chúng tôi còn giới thiệu nghiên cứu trước đây về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua bao gói xanh để có cái nhìn rõ ràng hơn về nghiên cứu có thể dẫn đến việc phát triển các mô hình nghiên cứu phù hợp. Chương 2: Khung nghiên cứu và giả thuyết phát triển Trong chương này, đề xuất một mô hình nghiên cứu, trình bày các mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu và thiết lập giả thuyết cần kiểm tra. Chọn thang đo phù hợp với mô hình nghiên cứu.
Và trong chương này, nhóm sẽ đi vào phương pháp nghiên cứu, tiến hành thu thập dữ liệu để chuẩn bị cho việc phân tích dữ liệu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và phân tích dữ liệu Trong chương này, chọn thang đo phù hợp và sau đó đi vào phương pháp nghiên cứu, tiến hành thu thập dữ liệu để chuẩn bị phân tích dữ liệu. Chương 4: Thảo luận Chương này thảo luận về kết quả sau quá trình phân tích dữ liệu và khám phá mối quan hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu. Chương này cũng quyết định mục tiêu nghiên cứu có đạt được hay không và giúp cung cấp các câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đã được liệt ra ở đầu trang.
11 Chương 4 cũng trình bày kết luận của nghiên cứu, hàm ý cho các mục đích học thuật và thực tiễn, những hạn chế trong việc nghiên cứu và đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo. NỀN TẢNG LÝ THUYẾT 1. Nền tảng lý thuyết: 1. Sự quan tâm đến môi trường: Sự quan tâm của môi trường là một dạng thức của thái độ, thể hiện sự lo lắng, say mê, quan tâm đến hậu quả của môi trường (Yeung 2005, Antonides và Van Raay 1998, Maloney và cộng sự, 1975).
Sự quan tâm đến môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi mua xanh (Kim & Choi, 2005; Mainieri và cộng sự 1997; Grunet 1993, Lee 2008). Đa số các nghiên cứu đều cho rằng sự quan tâm đến môi trường được xem là thái độ chung đối với môi trường, tập trung vào sự đánh giá lí trí và tình cảm đối với việc bảo vệ môi trường (Bamberg, 2003), do vậy không liên quan đến một đối tượng cụ thể hoặc một hành động cụ thể vì môi trường. Hines và cộng sự (1987) đã phân loại thái độ đối với môi trường thành “ thái độ đối với môi trường” và “thái độ với hành vi cụ thể vì môi trường”, đồng thời tìm ra rằng thái độ cụ thể có ảnh hưởng mạnh mẽ và có ý nghĩa đến hành vi vì môi trường hơn so với thái độ chung đối với môi trường. Như vậy, ảnh hưởng của sự quan tâm đến môi trường – như một thái độ chung đối với môi trường – đến hành vi cụ thể vì môi trường cần được xem như là gián tiếp thông qua thái độ đối với hành vi cụ thể vì môi trường (Bamberg, 2003).
Điều này được củng cố bởi Ajzen và Fishbein ( 1980) rằng thái độ chung không ảnh hưởng trực tiếp, mà ảnh hưởng gián tiếp lên hành vi cụ thể thông qua thái độ đối với hành vi cụ thể. Thái độ đối với hành vi mua bao bì xanh Thái độ đối với hành vi mua được định nghĩa là “ tình cảm tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân về một hành vi cụ thể ”( Ajzen và Fishbein,1980). Theo mô hình TPB, thái độ đối với hành động có ảnh hưởng mạnh và tích cực đến ý định hành động. Mối quan hệ này được kiểm chứng bởi nhiều nghiên cứu về hành vi mua xanh ( Chan, 2001; Bang và cộng sự, 2000; Bamberg, 2003).
Tiêu chuẩn chủ quan Tiêu chuẩn chủ quan xảy ra khi suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của cá nhân bị ảnh hưởng bởi người khác (Finlay, Trafimow, & Moroi, 1999, p. Đối với người trẻ, có các nguồn ảnh hưởng từ thầy cô, gia đình, bạn bè, trường học và truyền thông. Trong đó ảnh hưởng của truyền thông và bạn bè quan trọng hơn cả, đặc biệt bạn bè có ảnh hưởng mạnh đến nhiều khía cạnh của hành vi tiêu dùng, chuẩn mực và giá trị cá nhân ( Bindah và Othman, 2012). Nhiều nghiên cứu đã công nhận, vai trò này dự đoán tốt của tiêu chuẩn chủ quan cho ý định mua xanh ( Bang và cộng sự, 2000; Bamberg, 2003), trong giới trẻ (Lee,2008).
Nhận thức kiểm soát hành vi Kiểm soát hành vi được định nghĩa là cảm nhận của cá nhân về việc dễ hay khó khi thực hiện hành vi. Nó biểu thị mức độ kiểm soát việc thực hiện hành vi chứ không phải là kết quả của hành vi. Trong bối cảnh tiêu dùng xanh, kiểm soát hành vi mô tả cảm nhận của người tiêu dùng về sự sẵn có các nguồn lực cần thiết, rào cản, độ dễ dàng thực hiện việc tiêu dùng xanh. Phương tiện truyền thông xã hội trực tuyến và Tiếp thị mạng xã hội trực tuyến.
Phương tiện truyền thông xã hội trực tuyến Trong bối cảnh của nghiên cứu này, thuật ngữ, phương tiện truyền thông xã hội trực tuyến, được đề cập đến những dịch vụ dựa trên nề tảng internet và dịch vụ di động cho phép người dùng trao đổi online với nhau, đăng tải những nội dung và tham gia vào các cộng đồng để trao đổi trực tuyến, bao gồm blog (ví dụ:Tumblr), wiki (ví dụ: Wikipedia), đánh dấu trang xã hội (ví dụ: Digg), các trang web mạng xã hội (ví dụ: Facebook, Twitter, LinkedIn) và phương tiện truyền thông-chia sẻ trang web (ví dụ: YouTube, Instagram). Định nghĩa này được đề xuất bởi Dewing (2012, trang 1). Sự ra đời của phương tiện truyền thông xã hội đã ảnh hưởng đến cách các công ty tạo liên kết với khách hàng của họ và các dịch vụ được cung cấp bởi phương tiện truyền thông xã hội không chỉ là công nghệ cao mà còn nhanh chóng, hiệu quả và thuận tiện. Là người dùng của các phương tiện truyền thông xã hội này, những khác hàng tiềm năng vì vậy tham gia vào các hội nhóm với những sở thích khác nhau và đó là khía cạnh mang tính đặc thù của chúng cho phép những nỗ lực trong các chiến lược tiếp thị.
Mạng xã hội hoạt động thông qua các 14 trang truyền thông xã hội nhất định cho phép người dùng tạo hồ sơ, chia sẻ thông tin, tương tácvà liên lạc với những người dùng khác trong cùng trang web (Kaplan &Haenlein, 2010). Tiếp thị mạng xã hội trực tuyến Sự thay đổi đã nhanh chóng của các phương tiện truyền thông xã hội trực tuyến đã tác động đến lĩnh vực tiếp thị hiện có, do đó, tạo ra mối quan hệ giữa các nhà tiếp thị và những người tiêu dùng. Sự phát triển này đã tạo ra những tiềm năng mới lạ và các cơ hội trong thương mại và thương mại đến mức thay đổi cách người tiêu dùng phản ứng với việc mua hàng khi tiếp xúc với một loạt các thương hiệu sản phẩm và dịch vụ trên mạng xã hội. (Shaw, 2012) Tiếp thị mạng xã hội trực tuyến, một tập hợp con của tiếp thị truyền thông xã hội, là một trong những nỗ lực tiếp thị mới lạ và nổi bật đã mang lại cho người tiêu dùng như người tham gia thay vì quan sát viên.
Theo phương pháp tiếp thị này, thương hiệu và người tiêu dùng được kết nối mà không có bất kỳ giới hạn về thời gian, địa điểm và phương tiện liên lạc, tạo điều kiện cho giao tiếp hai chiều thay vì một chiều như truyền thống truyền thông (Kim & Ko, 2012). Quan sát này cũng được ghi nhận (Kozinets, Hemetsberger và Schau,2008) và (Merz, Yi và Vargo,2009) đã đề cập rằng sự xuất hiện của một truyền thông công nghệ tiên tiến đã thay đổi thái độ của người tiêu dùng, từ đó người dùng đóng góp phục tùng cho một trong những người khởi tạo và có thể bị thao túng như cách mà người tiêu dùng đang phụ thuộc vào các trang mạng xã hội hiện nay. Bao bì và bao bì xanh 1. Bao bì Bao bì là khoa học, nghệ thuật và công nghệ của việc bao bọc hoặc bảo vệ các sản phẩm để phân phối, lưu trữ, bán và sử dụng.
Bao bì cũng đề cập đến quá trình thiết kế, đánh giá và sản xuất các gói. Bao bì có thể được mô tả như một hệ thống phối hợp chuẩn bị hàng hóa để vận chuyển, lưu kho, hậu cần, bán hàng và sử dụng cuối cùng. Bao bì chứa, bảo vệ, bảo quản, vận chuyển, thông báo và bán. (Soroka,2002) 15 Fundamentals of Packaging Technology, Institute of Packaging Professionals.
Bao bì có một số mục tiêu được xác định bởi Louw và Kimber (2007, tr.2-3): • Bảo vệ vật lý - Bảo vệ các vật thể trong gói khỏi bị sốc, rung, nén, nhiệt độ, vv • Bảo vệ rào chắn – giữ nước, lưu trữ, chứa đựng các nguyên liệu, thức ăn, v. • Ngăn chặn hoặc tích tụ - Các đối tượng nhỏ thường được nhóm lại với nhau trong một gói vận chuyển và xử lý hiệu quả. Ngoài ra, hàng hóa số lượng lớn (như muối) có thể được chia thành các gói có kích thước phù hợp hơn cho từng cá nhân hộ gia đình. • Truyền thông tin - Thông tin về cách sử dụng, vận chuyển, tái chế hoặc thải bỏ của gói hoặc sản phẩm thường được chứa trên bao bì hoặc nhãn.
• Giảm trộm cắp - Bao bì không thể đóng lại hoặc bị hư hỏng về thể chất, rất hữu ích trong việc ngăn chặn hành vi trộm cắp • Thuận tiện - các tính năng thêm tiện lợi trong phân phối, xử lý, hiển thị, bán hàng, mở gói, đóng lại, sử dụng và tái sử dụng,… Tùy vào mục đích sử dụng của bao bì mà có nhiều loại bao bì khác nhau, bao gồm bao gói sơ cấp là hộp đựng chính của sản phẩm (ví dụ: ống kem đánh răng), bao gói thứ cấp là gói bị vứt đi khi sản phẩm được sử dụng (ví dụ:hộp các tông chứa ống kem đánh răng), bao gói phân phối là tất cả các gói cần thiết để phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất đến nhà bán lẻ hoặc người dùng cuối với số lượng lớn, bao gói thuận tiện để thỏa mãn nhu cầu giữ, bảo vệ, chứa đựng hàng hóa hoặc các tài sản khác của khách hàng. (Dainora Grundey, Functionality of Product Packaging: Surveying Consumers’ Attitude Towards Selected Cosmetic Brands, Economics & Sociology, Vol. Bao bì xanh Shamdasani & cộng sự định nghĩa bao bì xanh là bao bì không gây ô nhiễm cho trái đất hoặc tổn hại tài nguyên thiên nhiên và có thể tái chế và bảo tồn. Đó là một loại bao bì có chất liệu hoặc bao bì thân thiện với môi trường hơn trong việc giảm tác động đến môi trường.