Chương 1 kết thúc bằng việc giới thiệu mô hình nghiên cứu đề xuất. Mô hình này sẽ tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến ý định gửi tiền của khách hàng cá nhân, đưa ra một cái nhìn chi tiết và cụ thế về những yếu tố này trong bối cảnh Việt Nam. Mục tiêu là đóng góp vào lĩnh vực nghiên cứu này thông qua việc xây dựng một mô hình có tính ứng dụng cao và độ chính xác trong việc dự đoán hành vi của khách hàng. 27 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGẰN HÀNG THƯƠNG MẠI • Chương 2 tập trung vào việc trình bày cơ sở lý luận về hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại.
Các lý thuyết được đề cập đến trong chương này là kết quả của những giả thuyết đã được kiểm chứng và khang định, cũng như các lý thuyết được phát trien bởi các nhà nghiên cứu để giải thích các hiện tượng liên quan.1 Cơ sở lý thuyết về hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm 2.1 Khái niệm hoạt động huy động vốn Huy động vốn là một hoạt động quan trọng trong quá trình cung cấp nguồn vốn cho Ngân hàng Thương mại, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn và đóng vai trò quan trọng đối với quy mô và hiệu suất kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng thường sử dụng vốn tạm thời từ khách hàng, đồng thời chịu trách nhiệm đầy đủ về chi phí trong hình thức lãi suất tiền gửi. Huy động vốn có nhiều phương pháp, trong đó có hoạt động gửi tiền có kỳ hạn. TGKT là số tiền được gửi vào tài khoản tiết kiệm của cá nhân, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, có quyền nhận lãi theo quy định của tổ chức chấp nhận tiết kiệm và được bảo hiếm theo quy định của pháp luật về bảo hiếm tiền gửi.
Tại Việt Nam, các Ngân hàng Thương mại huy động tiền gửi tiết kiệm dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau: - Bên gửi tiền: là người sở hữu tiền gửi tiết kiệm, có thể là chủ sở hữu độc lập hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện họp pháp cùa chủ sờ hữu tiền gửi. - Giao dịch tiền gửi tiết kiệm bao gom các hoạt động như gửi tiền, rút tiền và các giao dịch khác liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. - Chủ sở hữu là người có tên ghi trên số tiết kiệm hoặc thẻ tiết kiệm. 28 -Tài khoản tiền gửi tiết kiệm là tài khoản đăng ký dưới tên cá nhân hoặc dưới tên chủ sờ hữu chung, được sử dụng để thực hiện nhiều giao dịch tiết kiệm.
❖ Nguyên tắc huy động TGTK Vì nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm (TGKT) chiếm tỷ trọng lớn và là nguồn von chủ yếu, các Ngân hàng Thương mại (NHTM) hiện nay đều thực hiện chính sách huy động TGKT với mục tiêu tập trung cung cấp vốn cho nền kinh tế. Việc phát hành TGKT thực chất là việc cung cấp von từ chủ sở hữu, và trong quá trình này, các nguyên tắc cơ bản sau đây phải được tuân thủ: Nguyên tắc hoàn trả: Là một nguyên tắc cơ bản, đòi hỏi các Ngân hàng Thương mại (NHTM) phải chịu trách nhiệm hoàn trả tiền cho khách hàng khi có yêu cầu hoặc khi đến hạn. Điều này góp phần xây dựng niềm tin cho khách hàng, làm cho họ cảm thấy an tâm khi ý định gửi tiền vào ngân hàng. Đe thực hiện việc hoàn trả nợ cho khách hàng, NHTM phải có khả năng sử dụng vốn một cách an toàn và hiệu quả.
Trong trường hợp NHTM phá sản do kinh doanh thua lỗ, quá trình hoàn trả tiền cho khách hàng thường được thực hiện thông qua hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, khi tiếp nhận tiền gửi từ khách hàng, NHTM thường phải mua bảo hiếm tiền gửi từ tố chức bảo hiểm tiền gửi với mức phí cố định. Trong tình huống NHTM phá sản, tổ chức bảo hiếm tiền gửi sẽ đảm bảo trả lại tiền cho khách hàng theo mức chi trả tối đa được quy định. Cơ chế bảo vệ tiền gửi không chỉ giữ an toàn cho quyền lợi của khách hàng mà còn giúp ngăn ngừa rủi ro và bảo vệ sự ôn định của hệ thong ngân hàng.
- Trả lãi: Ngân hàng thương mại không chỉ phải hoàn trả vốn mà còn có trách nhiệm trả lãi cho khách hàng, bất ke ngân hàng lãi hay lồ. Nguyên tắc này đảm bảo rằng người gửi tiền giữ được vốn và nhận được lợi nhuận 29 thỏa đáng dưới dạng lãi suất. Vì vậy, gửi tiết kiệm tại ngân hàng hoặc mua trái phiếu ngân hàng phát hành là một hình thức đầu tư hiệu quả và an toàn. - Bảo mật: Đây là nguyên tắc quan trọng và cũng là yêu cầu khách quan đối với việc bảo mật thông tin tiền gửi của khách hàng.
Theo nguyên tắc này, ngân hàng thương mại phải duy trì sự bí mật về thông tin liên quan đến tài khoản, số dư, và bất kỳ thay đối nào trong tài khoản tiền gửi cùa khách hàng, trừ khi có yêu cầu chính thức từ cơ quan chức năng. Việc bảo mật và giữ an toàn thông tin về các biến động trong tài khoản tiền gửi của khách hàng hiện nay là một trong những tiêu chuấn quan trọng mà các ngân hàng trên toàn cầu đều phải tuân thủ.2 Phân loại TGTK ❖ Căn cứ theo kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: TGKT không kỳ hạn là một dạng sản phẩm tiết kiệm mà ngân hàng phát triển đặc biệt cho những khách hàng chưa ý định sử dụng số tiền đã tiết kiệm mà muốn đảm bảo an toàn và thu được lợi nhuận. Đối với những người lựa chọn hình thức tiết kiệm này, yếu tố quan trọng nhất là sự an toàn và tiện lợi, thay vì mục tiêu lợi nhuận cụ thế trong tương lai. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: TGKT kỳ hạn là một loại sản phẩm tiết kiệm được thiết kế đặc biệt cho những khách hàng có mục tiêu về sự an toàn, đong thời muốn đạt được lợi nhuận và kế hoạch tương lai.
Đây là hình thức tiết kiệm rộng rãi và được biết đến phô biến ở Việt Nam. Trong loại hình gửi tiết kiệm này, khách hàng sẽ nhận được một so tiết kiệm với số tiền gửi được giới hạn và chỉ có thể rút tiền sau một khoảng thời gian gửi nhất định, được thỏa thuận trước với ngân hàng. Do đó, đây là một nguồn vốn tương đoi on định, và lãi suất cùa TGKT kỳ hạn thường cao hơn so với TGKT không kỳ hạn. Trong trường họp khách hàng rút tiền trước thời hạn, lãi suất sẽ được áp dụng theo 30 thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng, tùy thuộc vào điều kiện gửi tiền cụ thể.
Tiết kiệm có kỳ hạn có thể được phân loại thành nhiều dạng khác nhau. Sổ tiết kiệm có thể có các kỳ hạn từ 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng., 12 tháng hoặc thậm chí là các kỳ hạn lâu dài với mức lãi suất biến động tùy thuộc vào thời gian gửi, thường thì lãi suất sẽ tăng theo chiều dài của kỳ hạn. Ngoài ra, tùy thuộc vào cách thức trả lãi, tiết kiệm có the được phân thành các loại: tiền gửi trả lãi đầu kỳ, trả lãi cuối kỳ hoặc trả lãi định kỳ (hàng tháng hoặc hàng quý). ❖ Căn cứ theo loại tiền TGTK bằng nội tệ: là loại TGTK có mệnh giá bằng VNĐ, được gửi tại ngân hàng và được hưởng lãi bằng VNĐ theo quy định được thiết lập tại thời diem gửi.
Loại TGTK này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. TGTK theo đồng ngoại tệ là dạng TGTK có mệnh giá được đo đếm bằng các đong tiền ngoại tệ, được gửi tại ngân hàng và nhận lãi từ số tiền gửi cũng bằng ngoại tệ. Các đong ngoại tệ chủ yếu được sử dụng trong hình thức này bao gồm USD, EUR, và các loại khác.3 Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm ❖ Đặc điểm của hoạt động huy động TGTK Những đối tượng tham gia vào quá trình huy động TGTK bao gom các Ngân hàng Thương mại (NHTM), nơi có trách nhiệm chính trong việc huy động vốn thông qua TGTK, và các khách hàng cá nhân, đóng vai trò là những nhà cung cấp vốn, đặt tiền vào ngân hàng để tham gia hoạt động huy động TGTK. Các NHTM ngày càng mở rộng hình thức huy động TGTK đế đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng doanh nghiệp.
Cụ thể, các phương thức huy động TGTK bao gồm việc tiếp nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền 31 gửi với hạn mức, và phát hành các giấy tờ có giá trị như phiếu giảm giá, trái phiếu, chứng chỉ đầu tư. Trong trường hợp khách hàng muốn rút tiền, ngân hàng sẽ trả lại số vốn đã phát hành và chi trả lãi suất tích lũy trên số tiền gửi. Lài suất này đại diện cho chi phí mà ngân hàng phải thanh toán đe duy trì khoản tiết kiệm của khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Huy động TGTK là một quá trình bù trừ, bởi vì ngân hàng thương mại, như một bên đi vay, chỉ có quyền sử dụng số vốn được cung cấp trong một khoảng thời gian cụ thể mà không sở hữu quyền ý định về số vốn đó.
Ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả số vốn này cho khách hàng vào ngày thanh toán hàng hóa hoặc ngay khi khách hàng yêu cầu. Hình thức huy động TGTK được xem xét như một phương thức đầu tư an toàn, đặc biệt trong bối cảnh kinh te thị trường. Lãi suất gửi TGTK đóng vai trò tích cực, động viên quá trình huy động TGTK của khách hàng cá nhân. Đổ thực hiện hoạt động huy động TGTK, sự tin tưởng từ phía khách hàng đối với ngân hàng là điều không thể thiếu.
Vì vậy, các ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt thông tin khách hàng về bảo mật, quá trình huy động TGTK và việc sử dụng vốn huy động cần có sự giám sát chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho tiền của khách hàng.4 Vai trò của TGTK 2.1 Đối với nền kinh tế Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thu hút vốn cho nền kinh tế. Bằng cách huy động TGTK, ngân hàng có the tập trung nguồn lực chưa sử dụng và ngầu nhiên từ các đơn vị kinh tế, tạo thành một lượng von đáng ke. Điều này giúp ngân hàng cung cấp nguồn vốn cho các hoạt động đầu tư có lợi nhuận, đáp ứng nhu cầu kinh tế - xã hội và đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế, một xu hướng được chứng kiến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.