CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHMT 1. Khái quát chung về NHTM 1. Khái niệm NHTM Theo quan điểm hiện đại của các nhà kinh tế Việt Nam, NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng – đặc biệt là tín dụng tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Theo luật các TCTD (công bố ngày 26/12/97) và luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật các TCTD (có hiệu lực thi hành ngày 01/10/2004): NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Theo khoản 7 điều 20 luật này cũng định nghĩa: TCTD là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Điều 6 luật ngân hàng Nhà nước năm 2010 đưa ra định nghĩa: hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. NHTM xuất hiện khá sớm trong lịch sử. Khi mới ra đời hoạt động chủ yếu của nó là cho vay là làm trung gian thanh toán, nhưng ngày nay hoạt động của NHTM rất đa dạng.
Ngoài dịch vụ truyền thống, NHTM ngày càng mở rộng và triển khai thêm nhiều dịch vụ kinh doanh mới như: Tư vấn chứng khoán, bảo lãnh và làm đại lý phát hành, quản lý danh mục đầu tư… Sinh viên: Đỗ Văn Cường Lớp: K45H4 Luan van 5 1. Khái niệm về vốn kinh doanh của NHTM Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Nó chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng bao gồm: - Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng. Nó mang tính ổn định và là căn cứ để quyết định đến khả năng và khối lượng vốn huy động của ngân hàng.
- Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn để kinh doanh. Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng và phải hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn. Nguồn vốn này luôn biến động, tuy nhiên nó đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động của ngân hàng. - Vốn đi vay là phần vốn các ngân hàng đi vay để bổ sung vào vốn hoạt động của mình trong trường hợp tạm thiếu vốn khả dụng.
Nó có chi phí tương đối cao cho nên chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. - Vốn khác là phần vốn phát sinh trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ thanh toán… 1. Phân loại vốn kinh doanh của NHTM a. Căn cứ vào tính chất sở hữu của vốn: Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu phản ánh số liệu và tính hình tăng, giảm các loại nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, của các thành viên góp vốn trong công ty.
Nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. Nguồn vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh, do đó nguồn vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ. Một doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều chủ sở hữu vốn. Sinh viên: Đỗ Văn Cường Lớp: K45H4 Luan van 6 Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm vốn đóng góp của các nhà đầu tư để thành lập mới hoặc mở rộng doanh nghiệp.
Chủ sở hữu vốn của doanh nghiệp có thể là nhà nước, cá nhân hoặc các tổ chức tham gia góp vốn, các cổ đông mua và nắm giữ cổ phiếu. Ngoài ra, vốn chủ sở hữu còn bao gồm các thành phần quan trọng khác như các khoản thặng dư vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu cao hơn mệnh giá; các khoản nhận biếu, tặng, tài trợ; vốn được bổ sung từ kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của chính sách tài chính hoặc quyết định của các chủ sở hữu vốn , của HĐQT. Các khoản trênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản và các quỹ hình thành từ lợi nhuận sau thuế, cùng với giá trị cổ phiếu quỹ làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu cũng nằm trong phần mục này trong bản cân đối kế toán của doanh nghiệp. Vốn vay: Là loại vốn mà ngân hàng chủ động đi vay với mục đích, thời hạn vay và đối tượng vay khác nhau.
Nó là quan hệ vay mượn giữa NHTM và NHNN, giữa các NHTM với nhau, giữa NHTM với các TCTD khác trong nước hoặc nước ngoài nhằm bổ sung vào vốn hoạt động khi ngân hàng sử dụng hết vốn khả dụng. - Vốn tiền gửi: là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả. Bao gồm: theo mục đích gửi tiền (tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm), theo chủ thể gửi tiền (cá nhân, tổ chức doanh nghiệp, kho bạc, TCTD), theo thời hạn gửi tiền (không kỳ hạn, có kỳ hạn). - Vốn phi tiền gửi: + Tiền vay: Vay nhà nước, các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường tài chính.
+ Vốn phi tiền gửi khác: Tiền trong thanh toán, các khoản treo chờ xử lý, tiền ủy thác. Căn cứ vào thời gian sử dụng vốn - Vốn dài hạn: là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để đầu tư, cho vay hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh có thời gian thu hồi vốn trên 1 năm. Do thời gian thu hồi vốn dài nên lãi suất của nguồn vốn này thường rất cao. Sinh viên: Đỗ Văn Cường Lớp: K45H4 Luan van 7 - Vốn ngắn hạn: là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để đầu tư, cho vay hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh có thời gian thu hồi vốn dưới 1 năm.
Do thời gian thu hồi vốn ngắn nên lãi suất thường thấp. Khái quát về hoạt động huy động vốn của NHTM 1. Hoạt động huy động vốn Huy động vốn là một nghiệp vụ chủ chốt, không thể thiếu được của các ngân hàng nói chung và của Eximbank nói riêng, bởi nguồn vốn chính của một ngân hàng là nguồn vốn huy động. Hơn nữa, huy động vốn không phải là một nghiệp vụ độc lập mà nó gắn liền với các nghiệp vụ sử dụng vốn và các nghiệp vụ trung gian khác như thanh toán, chuyển tiền của NHTM.
Ngân hàng phải luôn đảm bảo cho mình một nguồn vốn dồi dào đáp ứng nhu cầu của khách hàng đến vay vốn và đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình phát triển của đất nước. Bên cạnh đó, huy động vốn phải dựa trên cơ sở xác định thị trường đầu ra, lĩnh vực đầu tư có hiệu quả hay không lãi suất ra sao… 1. Đặc điểm của hoạt động huy động vốn của NHTM Cũng như các doanh nghiệp khác, ngân hàng muốn hoạt động trước hết phải có vốn. Nhưng do những khác biệt trong công tác tổ chức cũng như vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế mà nhu cầu về vốn của ngân hàng rất lớn.
Nhu cầu về vốn của ngân hàng được đáp ứng từ những nguồn sau. Vốn tự có Nguồn vốn tự có của ngân hàng được hình thành từ hai bộ phận Vốn điều lệ: Là số vốn ban đầu của ngân hàng, là tiêu chuẩn đề một ngân hàng thành lập và đi vào hoạt động: về quy mô thì vốn điều lệ lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định (vốn do nhà nước quy định). Tuy nhiên với mỗi loại hình hoạt động khác nhau của từng ngân hàng thì vốn điều lệ cũng có nguồn hình thành khác nhau. Vốn điều lệ nói lên sức mạnh và khả năng hoạt động ban đầu của một ngân hàng.
Sinh viên: Đỗ Văn Cường Lớp: K45H4 Luan van 8 Vốn tự có bổ sung: Được hình trong quá trình hoạt động của ngân hàng thông qua việc trính lập các quỹ. Hàng năm ngân hàng căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh của mình mà trích lập một phần lợi nhuận bổ sung vào nguồn vốn tự có của ngân hàng. Nguồn vốn vay từ trung ương. Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại dưới nhiều hình thức như: cho vay, mua bán, chiết khấu, tái chiết khấu đối với các giấy tờ có giá trị của NHTM.
Vốn hình thành từ nguồn này đảm bảo cho khả năng thanh toán của NHTM. Nguồn vốn điều hòa trong hệ thống. Các NHTM có nhiều chính sách nằm trên các địa bàn khác nhau nên luôn luôn xuất hiện tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn đối với các chi nhánh trong cùng hệ thống. Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là do trên mỗi địa bàn có những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, do đó tác động đến nguồn vốn và khả năng sử dụng của từng chi nhánh.
Nguồn vốn huy động. Đây là nguồn vốn quan trọng nhất của một NHTM. Nguồn vốn huy động có nhiều hình thức khác nhau. Các khoản tiền gửi của khách hàng.
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Đây là một trong những khoản tiền lớn gửi ngân hàng.Việc phân chia các khoản tiền gửi của dân cư có thể theo nhiều tiêu thức khác nhau, thông thường là theo thời gian: + Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào. Do thời hạn rút tiền không được ấn định trước nên khách hàng phải chấp nhận một tỷ lệ lãi suất thấp hơn so với hình thức tiền gửi có kỳ hạn. + Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ có thể rút tiền theo thời hạn đã được thỏa thuận giữa ngân hàng với khách hàng. Sinh viên: Đỗ Văn Cường Lớp: K45H4 Luan van 9 - Tiền ký gửi: Đây là khoản tiền mà khách hàng đem ký gửi vào ngân hàng.