Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phát triển nguồn vốn huy động của NHTM. Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn vốn huy động của các chi nhánh NHT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn vốn huy động tại các chi nhánh NHT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Tài tiệu tham khảo.
1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Nguồn vốn huy động của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm “Nguồn vốn huy động là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế, được ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng để kinh doanh trong một thời gian xác định sau đó sẽ hoàn trả lại cho chủ sở hữu”, (Trầm Thị Xuân Hương, 2012, trang 7). Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn của NHTM, là nguồn vốn chủ yếu phục vụ cho hoạt động kinh doanh của NHTM, cung ứng vốn tín dụng cho các thành phần kinh tế đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đ y phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, khi đến hạn ngân hàng phải hoàn trả cho vốn chủ sở hữu cả gốc lẫn lãi nên vốn huy động là thành phần vốn có tình biến động. Khi sử dụng nguồn vốn huy động, ngân hàng phải thiết lập dự trữ để đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản. Đặc điểm của nguồn vốn huy động (Nguyễn Đăng ờn, 2009, trang 46-47) - Nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM, các NHTM hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn này. - Nguồn vốn huy động về mặt lý thuyết là một nguồn vốn không ổn định, vì khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc.
Vì vậy, các NHTM phải cần duy trì một khoản “ ự trữ thanh khoản” để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. - Có chi phí sử dụng vốn tương đối cao và chiếm tỷ trọng chi ph đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. - Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng. - Nguồn vốn huy động, chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các NHT không được sử dụng nguồn vốn này để đầu tư.
Phân loại nguồn vốn huy động (Trầm Thị Xuân Hương, 2012, trang 21-22) 1. Nguồn tiền gửi Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi một ngân hàng ắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, ằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các oanh nghiệp, các tổ chức và của ân cư. Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng.
Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã huy động nguồn vốn từ nguồn khác nhau. a) Phân loại theo thời hạn : - Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền đúng như tên gọi của nó là thời gian gửi tiền không xác định, khách hàng (cá nhân, tổ chức) có quyền rút tiền ra ất cứ lúc nào. - Tiền gửi có kỳ hạn : Ngược với khoản tiền gửi không kỳ hạn, đây là khoản tiền gửi với thời gian xác định. Nguyên tắc tiến hành khoản tiền gửi này là người gửi chỉ được rút tiền khi đến thời hạn như đã thoả thuận có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm hoặc trên thế nữa.
Th o quy định, ngân hàng có quyền từ chối việc rút tiền trước thời hạn của người gửi tiền. Tuy nhiên, ở một số nước, quy định này đã được nới lỏng: các ngân hàng cho phép người gửi tiền được rút ra trước hạn nhưng phải áo trước cho ngân hàng một khoảng thời gian nhất định, nếu không áo trước người gửi sẽ không được hưởng lãi suất hoặc rất thấp. b) Phân loại theo đối tượng : - Tiền gửi của dân cư: Các tầng lớp ân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử ụng đến.Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm với mục tiêu đảm ảo an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm, đặc iệt là nhu cầu ảo toàn. - Tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội: Các oanh nghiệp o yêu cầu của hoạt đông sản xuất kinh oanh nên các đơn vị này 3 thường gửi một khối lượng lớn tiền vào ngân hàng để hưởng tiện ch trong thanh toán.
- Tiền gửi tổ chức tài chính: Cũng như oanh nghiệp, các tổ chức tài ch nh cũng gửi tiền vào ngân hàng để sử ụng các tiện ch thanh toán phục vụ hoạt động kinh oanh của mình. c) Phân loại theo mục đích : - Tiền gửi thanh toán: Đây là tiền của oanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. - Tiền gửi có kỳ hạn: Hình thức gửi xác định kỳ hạn cụ thể với một lãi suất thông thường cao hơn so với lãi suất tiền gửi thanh toán. Đây là nguồn vốn có lãi suất cao hấp ẫn, vì mục đ ch gửi tiền của oanh nghiệp hay cá nhân là để hưởng lãi.
- Tiền gửi tiết kiệm: Các tầng lớp ân cư có các khoản tiền nhàn r i, t ch lũy để ành gửi vào ngân hàng với thời gian cụ thể nhằm mục đ ch sinh lời. - Phát hành GTCG: Ngân hàng huy động vốn ằng việc phát hành GTCG để huy động vốn trên thị trường. Đây là nguồn vốn huy động tương đối ổn định để sử ụng cho mục đ ch nhất định th o nhu cầu kinh oanh của ngân hàng. Nguồn vốn huy động khác - Vay trên thị trường tiền tệ: Các ngân hàng có thể vay mượn với nhau thông qua thị trường liên ngân hàng.
Thông qua tổ chức của NHNN, ngân hàng này sẽ vay ngân hàng khác có lượng tiền gửi ư thừa tại NHNN. - Vay NHNN: NHNN sẽ cho NHTM vay thông qua nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu thương phiếu, các GTCG hoặc cho vay lại theo hồ sơ t n ụng của NHTM. - Vay ngắn hạn thông qua hợp đồng mua lại: Là hợp đồng bán tạm thời chứng khoán chất lượng với tính thanh khoản cao với thỏa thuận sẽ mua lại chứng khoán này với mức giá được xác định trước trong hợp đồng. Giao dịch này có thời gian từ qua đêm hay đến vài tháng.
- Vốn chiếm dụng: Ngân hàng sử dụng tiền gửi nghĩa vụ của khách hàng trong quá trình thanh toán không dùng tiền mặt (các khoản tiền khách hàng ký quỹ 4 để bảo chi séc, mở thư t n ụng, bảo lãnh ngân hàng…) để tạm thời đáp ứng nhu cầu vốn. Phát triển nguồn vốn huy động 1. Mục tiêu phát triển nguồn vốn huy động Phát triển là hoạt động làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng từ t đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao và từ đơn giản đến phức tạp (Từ điển Tiếng Việt Online). Như vậy, phát triển nguồn vốn huy động là hoạt động làm tăng nguồn vốn huy động của các NHTM theo cả chiều rộng (mở rộng quy mô, thị phần) và chiều sâu (chất lượng, hiệu quả).
Đối tượng của phát triển nguồn vốn huy động Ngân hàng phát triển nguồn vốn huy động từ nhiều nguồn vốn thuộc các đối tượng khác nhau như ân cư, tổ chức kinh tế, các tổ chức tài ch nh, cơ quan ch nh quyền, Kho bạc Nhà nước, các TCT nước ngoài, người nước ngoài…Trong đó, các NHT thường chú trọng nhiều đến hai nguồn vốn chủ yếu là tiền gửi của các tổ chức kinh tế (TCKT) và tiền gửi ân cư. Các TCKT thường giao dịch với ngân hàng thông qua việc mở tài khoản TGTT để được cung cấp các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ ngân quỹ và tiền gửi có kỳ hạn. Ngược lại, khách hàng thuộc các tầng lớp ân cư, hoạt động giao dịch chủ yếu với ngân hàng thông qua tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn và tiền gửi không kỳ hạn. Nguyên tắc phát triển nguồn vốn huy động (Trầm Thị Xuân Hương, 2012, trang 9; Nguyễn Đăng ờn, 2009, trang 50-51) 1.
Tuân thủ pháp luật trong huy động vốn Các NHT không được huy động vốn quá nhiều so với vốn tự có nhằm đảm bảo khả năng chi trả về sau. Bên cạnh đó, các NHT phải áp dụng lãi suất huy động phù hợp với cơ chế quản lý lãi suất của NHNN, bởi vì lãi suất là một trong những công cụ để NHNN điều hành chính sách tiền tệ. Thông qua công cụ lãi suất NHNN có thể kiểm soát lượng tiền trong lưu thông qua đó kiểm soát lạm phát. 5 Các NHTM phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho khách hàng gửi tiền một cách vô điều kiện.
Ngân hàng phải tham gia bảo hiểm tiền gửi để đảm bảo an toàn cho khách hàng cũng như hệ thống ngân hàng khi có bất trắc xảy ra. Phải giữ bí mật số ư và thông tin hoạt động tài khoản của khách hàng. Tuy nhiên, ngân hàng không được hce dấu các khoản tiền lớn và bất thường (thực hiện các quy định của pháp luật về chống rửa tiền). Không được cạnh tranh không lành mạnh (thông tin giả, khuyến mãi bất hợp pháp…) gây nhiễu loạn thông tin, mất niềm tin của người ân đối với ngân hàng, làm ảnh hưởng đến an toàn của hệ thống ngân hàng.
Thỏa mãn yêu cầu kinh doanh với chi phí hợp lý Mục tiêu hoạt động của NHTM là lợi nhuận, nên công tác phát triển nguồn vốn huy động đi đôi với việc tăng quy mô, thị phần đảm bảo tốt nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh thì ngân hàng phải t nh đến hiệu quả của nguồn vốn huy động với mức chi phí hợp lý, đảm bảo hiệu quả kinh doanh ở mức cao nhất. Để tăng khả năng cạnh tranh, các NHTM phải áp dụng nhiều hình thức huy động vốn, kết hợp chặt chẽ giữa huy động vốn với hiện đại hóa dịch vụ ngân hàng, đa ạng hóa phương thức trả lãi đi đôi với dự thưởng để thu hút khách hàng. Ngăn ngừa sự giảm sút bất thường của nguồn vốn huy động Hoạt động của ngân hàng dựa vào chữ t n. Có tin tưởng vào khả năng quản lý và trả nợ của ngân hàng thì người dân và doanh nghiệp mới an tâm gửi tiền.
Vì vậy để tạp và giữ chữ tín của mình đối với khách hàng, ngân hàng phải đảm bảo khả năng thanh toán, đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu rút tiền của khách hàng trong mọi tình huống.