CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này cung cấp một bức tranh tổng quan về quá trình nghiên cứu liên quan đến nội dung kiểm soát nội bộ. Tính tổng quát của chương thể hiện thông qua việc khái quát hóa những nghiên cứu trong và ngoài nước về một số nội dung khác nhau liên quan đến hướng nghiên cứu trong bài luận văn, từ đó, xác định khe hổng nghiên cứu và thấy được tính cấp thiết của đề tài. Tổng quan nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu công bố ngoài nước Với sự thành lâp của Ủy ban COSO, năm 1992, COSO đã cho ra đời báo cáo đầu tiên về hệ thống KSNB; bao gồm 05 thành phần: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, và giám sát.
Đặc điểm nổi bật của báo cáo COSO là một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó kiểm soát nội bộ không còn chỉ là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho nhiều lĩnh vực hoạt động. Việc thành lập hê thống KSNB trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của nhiều tổ chức, không chỉ trong khu vực tư mà cả trong khu vực công. Từ khi ra đời, báo cáo COSO được thực hiện trong các công ty và có rất nhiều bài nghiên cứu liên quan đến việc sự hữu hiệu của hệ thống KSNB tại khu vực doanh nghiệp, ngân hàng…. (2005), chính phủ cũng như khu vực công cũng nên tập trung vào việc quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ vì hệ thống KSNB giúp cho tổ chức kiểm soát nguồn ngân sách, đánh giá giá trị của các công trình mà chính phủ thực hiện.
Do đó, cùng với sự ra đời của COSO 1992 đối với khu vực tư, IFAC ban hành báo cáo INTOSAI hướng dẫn về KSNB trong khu vực công năm 1992 và bản cập nhật năm 2001 đã có sự tích hợp với khái niệm trong báo cáo COSO, được công bố và năm 2004. Bên cạnh các nghiên cứu về hệ thống KSNB trong khu vực tư, việc nghiên cứu hệ thống KSNB trong khu vực công cũng là đề tài được các nhà nghiên cứu quan tâm. Trong khi đề cập đến các nghiên cứu quốc tế, luận án đã tiến hành tìm 7 hiểu các công trình nghiên cứu trên các tạp chí, các báo cáo của tổ chức nghề nghiệp…và mỗi tác phẩm đều hướng đến việc tìm hiểu về vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống KSNB để đưa ra giải pháp hoàn thiện trong việc quản lý rủi ro.Các bài nghiên cứu về hệ thống KSNB Trong lĩnh vực ngân hàng, tác giả Sulatna và Haque (2011) tiến hành nghiên cứu sự đánh giá trong cấu trúc của hệ thống KSNB tại ngân hàng ở Bangladesh. Trong bài nghiên cứu này, các tác giả đã cho thấy được có 5 nhân tố tác động đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB (môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông và giám sát) và 2 biến điều tiết (quyền hạn và mối quan hệ công việc).
Tác giả Wiliam & Kwasi (2013) khi thực hiện nghiên cứu về tính hiệu quả của hệ thống KSNB ở các ngân hàng khu vực phía đông Ghana đã chứng minh được rằng 3 yếu tố của hệ thống KSNB (kiểm soát quản lý, kiểm soát kế toán nội bộ và kiểm toán nội bộ) hỗ trợ nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của đơn vị mình. Tác giả Gamage et al. (2014) khi nghiên cứu về sự hữu hiệu của hệ thống KSNB tại hai ngân hàng thương mại ở Srilanka, đã sử dụng mô hình nghiên cứu giống như mô hình của Amudo, A. Nghiên cứu cho thấy kết quả là các biến độc lập (môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông và giám sát) có sự tác động cùng chiều đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB.
Tác giả Ho Tuan Vu (2016) đã xác định 05 thành phần: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, và giám sát có ảnh hưởng tích cực đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam Ngoài ra, bài nghiên cứu đưa ra 2 nhân tố mới là tổ chức chính trị và lợi ích nhóm cũng có ảnh hưởng đến hệ thống KSNB, trong đó, tổ chức chính trị có ảnh hưởng tích cực và lợi ích nhóm có ảnh hưởng tiêu cực. 8 Trong lĩnh vực Công nghệ thông tin, tác giả She-l et al (2014) tiến hành nghiên cứu khuôn mẫu KSNB trong môi trường ứng dụng hệ thống ERP. Bài nghiên cứu cung cấp một khuôn mẫu với 37 biến kiểm soát với mục đích hỗ trợ kiểm toán hiệu quả bằng việc xem xét KSNB thiết yếu trong hệ thống ERP. Khuôn mẫu đề nghị cho phép các công ty nâng cao hiệu quả kiểm toán IT và giảm thiểu rủi ro.2 Các bài nghiên cứu về hệ thống KSNB trong khu vực công Amudo, A.L (2009) khi nghiên cứu về sự đánh giá về hệ thống KSNB tại Uganda đã đưa ra mô hình lý thuyết nhằm đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong những dự án khu vực công ở Uganda mà được hỗ trợ tài chính bởi Ngân hàng Phát triển Châu Phi.
Mô hình thực nghiệm được tác giả phát triển dựa vào khuôn khổ KSNB của COSO và COBIT. Trong mô hình này, các biến độc lập bao gồm các biến độc lập chính (môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, và giám sát, công nghệ thông tin) và 12 biến độc lập phụ (được dùng để đo lường từng biến độc lập chính). Biến phụ thuộc là sự hiệu quả của kiểm soát nội bộ và được đo lường trong mối quan hệ với mục tiêu của tổ chức (sự hiệu quả và hiệu suất của hoạt động; sự tin cậy và chính xác của báo cáo tài chính; tương thích với luật, chính sách). Biến điều tiết là Ủy quyền và Mối quan hệ công tác.
Bài nghiên cứu đã thiết lập được mô hình lý thuyết về mối quan hệ của các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu hệ thống KSNB. Tuy nhiên, bài nghiên cứu thực hiện bằng các hình thức quan sát, phân tích tài liệu, xếp hạng, chưa có sự phân tích định lượng về các con số thống kê để đưa ra kết luận mức độ ảnh hưởng của các nhân tố. Từ đó, có thể nhận biết được những chỗ yếu kém để hoàn thiện và nâng cao trong hệ thống KSNB, hỗ trợ việc quản lý ngân sách trong khu vực công tốt hơn.Z (2013) nghiên cứu sự ảnh hưởng của hệ thống KSNB đến tính hữu hiệu của kiểm toán nội bộ trong các cơ quan hành chính địa phương. Bài nghiên cứu đã xây dựng một khung lý thuyết với hệ thống KSNB bao 9 gồm 5 thành phần: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, và giám sát có tác động đến kiểm toán nội bộ tại khu vưc công.
Giới hạn của bài nghiên cứu là sự tổng hợp các lý thuyết nhưng đã đóng góp trong việc mở rộng các lý thuyết tồn tại và thiết lập mô hình lý thuyết về mối quan hệ của hệ thống KSNB và kiểm toán nội bộ mà các nghiên cứu chưa thực hiện được; làm tiền đề cho các nghiên cứu trong tương lai.C (2015) đã tiến hành nghiên cứu sự ảnh hưởng của kiểm soát nội bộ đến chất lượng báo cáo tài chính và ảnh hưởng của nó đến việc quản lý tốt của khu vực công, nhấn mạnh rằng các biến phụ thuộc bao gồm chất lượng báo cáo tài chính (gồm 4 phần: tính thích hợp, độ tin cậy, sự so sánh, tính kiểm chứng) và việc thực hiện quản lý tốt (3 phần: sự tham gia, tính giải trình, tính chính trực) tác động đến biến thực hiện hệ thống KSNB. Kết quả là bài nghiên cứu đã chứng minh rằng kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng tốt hơn đến chất lượng báo cáo tài chính và chất lượng báo cáo tài chính tác động tích cực đến việc quản lý tốt. Mặc dù bài nghiên cứu đưa ra kết luận việc nâng cao hệ thống kiểm soát nội bộ của chính phủ đóng vai trò quan trọng trong chất lượng báo cáo tài chính và quản lý điều hành nhưng vẫn chưa phân tích phương pháp để nâng cao hê thống kiểm soát nội bộ. Trong phạm vi KBNN, Joseph O.
Từ đó, bài nghiên cứu đưa ra những đề nghị nhằm nâng cao khả năng loại trừ gian lận. Bên cạnh những đóng góp đạt được, bài nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ tích cực mà chưa tìm hiểu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó, tác động gián 10 tiếp đến việc ngăn chặn gian lận. Đây là hướng đi mới trong các nghiên cứu tương lai.1: Đo ường các biến của các nghiên cứu trước Biến Tác giả Đo lường Môi Amudo, A.L (2009), Tính trung thực và giá trị đạo trường Sulatna và Haque (2011), đức kiểm soát Badara M.Z (2013) Cam kết về năng lực của ban Gamage et al. (2014), lãnh đạo và nhân viên Ho Tuan Vu (2016), Triết lý quản lý và phong cách Joseph O.
& lãnh đạo Byaruhanga P. Cơ cấu tổ chức Chính sách nhân sự Đánh giá Amudo, A.L (2009), Xác định mục tiêu rủi ro Sulatna và Haque (2011), Nhận diện rủi ro Badara M.Z (2013) Phân tích rủi ro Gamage et al. (2014), Đánh giá rủi ro Ho Tuan Vu (2016), Quản trị rủi ro Joseph O.L (2009), Quyền hạn và quy trình phê động Sulatna và Haque (2011), duyệt kiểm soát Badara M.Z (2013) Phân chia trách nhiệm hợp lý Gamage et al. (2014), Soát xét của nhà quản lý cấp Ho Tuan Vu (2016), cao, của nhà quản lý cấp trung Joseph O.
Kiểm soát vật chất Kiểm soát quá trình xử lý thông tin Kiểm tra độc lập việc thực hiện 11 Thông Amudo, A.L (2009), Nhu cầu về thông tin (chính tin và Sulatna và Haque (2011), xác,thích hợp, kịp thời, cập nhật truyền Badara M.Z (2013) liên tục) thông Gamage et al. & Công tác truyền thông ra bên Byaruhanga P. ngoài Giám sát Amudo, A.L (2009), Giám sát thường xuyên Sulatna và Haque (2011), Giám sát định kỳ Badara M.Z (2013) Kiểm toán nội bộ Gamage et al. Tính hữu Amudo, A.L (2009), Hiệu quả hoạt động hiệu của Sulatna và Haque (2011), Báo cáo tài chính tin cậy hệ thống Badara M.Z (2013) Tuân thủ pháp luật và quy định KSNB Gamage et al.
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây) Tóm lại: Các bài nghiên cứu cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ là một đề tài vẫn được nhiều đối tượng lựa chọn nghiên cứu cho đến nay.