Phần mở đầu đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương này sẽ giới thiệu các lý thuyết có liên quan làm cơ sở cho thiết kế nghiên cứu. Đầu tiên là tóm tắt lý thuyết về các khái niệm chính của nghiên cứu: thu nhập và các nhân tố tác động đến thu nhập. Kế đó là những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về chủ đề này.
Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu sẽ được đề nghị dựa trên cơ sở lý thuyết.1 Thu nhập Trường phái cổ điển mà đại biểu là Adam Smith nhà kinh tế chính trị thời kỳ công trường thủ công, trong lí luận về phương pháp các nguồn thu nhập (1776) ông cho rằng tiền công, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của thu nhập (M.Marx, trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh của Gôta” (1875) xác định sản phẩm được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định gồm hai phần cơ bản: Phần bù đắp những hao phí về tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất. Đây là phần khôi phục, hay tái sản xuất ra những tư liệu sản xuất cần thiết. Kế đến là phần của cải mới được sáng tạo ra. Phần của cải mới sản xuất ra này chính là thu nhập.
Vậy thu nhập với tính cách là phạm trù kinh tế, là phần của cải mới được sản xuất do các ngành, các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế dùng để khôi phục lại sức lao động, tái sản xuất ra đời sống của người sản xuất và tích luỹ tăng thêm vốn vật chất cho sản xuất, hay thực hiện tái sản xuất mở rộng Theo kinh tế học, thu nhập là luồng tiền lương, trả lãi, cổ tức và các nguồn thu khác mà một cá nhân hay một quốc gia nhận được trong một 6 khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). (Paul A Samueson và William D.2 Thu nhập cá nhân Kinh tế học đã đi sâu, hiểu tường tận về thu nhập và cấu trúc của thu nhập, cũng như phương pháp đo lường và phản ánh thu nhập cả về lượng và chất, đồng thời hiểu được những quy luật thu nhập được sản xuất ra và tăng lên như thế nào.1 Trường phái tân cổ điển A. Marshall, đại biểu của trường phái tân cổ điển cho rằng, mỗi yếu tố sản xuất chỉ nhận được phần thu nhập ngang bằng với mức đã bù đắp những chi phí của riêng mình. Đáng chú ý của trường phái tân cổ điển là họ đã xác định được nguyên lý xác định tiền công trong tương quan giữa sản phẩm lao động và nhu cầu về lao động.
Hai định đề cơ bản của họ đã được Keynes trình bày trong tác phẩm “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (1936) như sau: “1. Tiền công bằng sản phẩm biên của lao động. Khi một khối lượng lao động nhất định được sử dụng, độ thoả dụng của tiền công bằng độ phi thoả dụng biên của số lượng việc làm đó Theo Keynes, khối lượng việc làm ở mức cân bằng, do đó tiền công được xác định là tuỳ thuộc vào: a, Hàm số cung tổng hợp; b, Khuynh hướng của tiêu dùng; c, Khối lượng đầu tư. Dưới sự cổ vũ của “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của Keynes, các nhà kinh tế học hiện đại đã từng bước làm rõ nguyên nhân vì sao tiền công và giá cả có xu hướng gắn bó với nhau.
7 Quan điểm tiền công được quy định bởi sản phẩm cận biên của lao động đã được John Bates Clark, thuộc trường phái “giới hạn” Mỹ xác định ở thời kỳ những năm 1900. John Clark cho rằng: Người lao động đầu tiên sản xuất ra nhiều sản phẩm tăng thêm trên hạn mức vì có nhiều đất đai để làm. Người lao động số 2 đem lại một số sản phẩm tăng thêm trên hạn mức cũng lớn, nhưng nhỏ hơn người số 1 một ít. Nhưng cả hai lao động đều như nhau nên họ phải thu được mức tiền lương giống hệt nhau.
Vậy tiền công là bao nhiêu? Phải chăng nó bằng sản phẩm tăng thêm trên hạn mức của người thứ 1? Hay của người thứ 2? Hay là bình quân giữa hai mức đó? 1.2 Trường phái kinh tế học phúc lợi Kinh tế học phúc lợi của Arthur Cecil Pigou: Chúng ta không ngần ngại khi đưa ra ý kiến kết luận rằng chừng nào thu nhập không giảm theo tổng thể của nó, thì mọi sự gia tăng (trong phạm vi các giới hạn khá rộng) về thu nhập thực tế của tầng lớp nghèo túng nhất tạo ra được do cắt giảm tương đương trong thu nhập của những tầng lớp giàu có nhất, rõ ràng sẽ gia tăng phúc lợi (A.3 Trường phái kinh tế học hiện đại. Kinh tế học hiện đại hiện đang giữ vai trò thống trị ở Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản, …Họ dùng danh từ tài nguyên, nguồn lực (resource) để chỉ những yếu tố đầu vào của sản xuất: đất đai ( gồm cả khoáng sản, nước, …) và vốn (gồm hiện vật và giá trị) - hai yếu tố này họ gọi chung là tài sản. Lao động và tài kinh doanh (tổ chức, phối hợp,…) - hai yếu tố này gọi chung là nhân lực. Theo đó, các khoản phải trả cho người sở hữu tài nguyên là: lương trả cho lao động, tiền cho thuê đất trả cho chủ sở hữu đất đai, lãi suất trả cho người có vốn, lợi nhuận trả cho người có tài kinh doanh.
8 Theo đó, tiền lương là giá trả cho việc sử dụng lao động. Tiền lương phải đảm bảo hai yêu cầu: • Sự đánh giá của xã hội đối với mỗi người. • Kích thích lao động. Kết quả khảo sát được rút ra từ nghiên cứu chênh lệch về tiền lương của các cá nhân là do những nguyên nhân chủ yếu sau: Giới tính, nhóm các ngành nghề, chất lượng lao động thể hiện ở kỹ năng, quá trình đào tạo,…(TS Đinh Sơn Hùng và TS Trương Thị Hiền, 2009).3 Các nhân tố tác động đến thu nhập cá nhân Theo kinh tế học cổ điển và tân cổ điển, mức lương cân bằng xác định bởi giao điểm giữa cung và cầu về lao động.
Tuy nhiên, thị trường lao động được thể hiện như một thị trường đặc biệt và khác với các loại thị trường khác. Các phương pháp tiếp cận nguồn vốn con người thường được sử dụng để giải thích sự khác biệt về tiền lương. Lý thuyết vốn con người (Human capital theory) đã được đề xuất bởi Schultz (1961) và phát triển rộng rãi bởi Becker (1964). Trong những năm sáu mươi, lý thuyết này đã được phát triển do nhận thức rằng sự tăng trưởng của vốn vật chất con người là một phần của sự tăng trưởng trong tăng trưởng thu nhập.
Theo lý thuyết vốn con người cho thấy rằng: giáo dục và đào tạo làm tăng năng suất của người lao động bằng cách truyền đạt kiến thức và kỹ năng hữu ích, do đó nâng cao thu nhập tương lai của người lao động bằng cách tăng thu nhập suốt đời của họ. Mặc nhiên công nhận rằng chi phí đào tạo và giáo dục là tốn kém và nên được coi là phần đầu tư kể từ khi nó được thực hiện nhằm tăng thu nhập cho cá nhân. Becker đưa ra giả định cơ bản: 9 1. Thị trường vốn con người hoàn hảo biểu thị bằng việc các cá nhân tham gia tự do vào thị trường.
Tiền lương là khoản chi phí trả cho người lao động, khi đó tiền lương được xác định: wt = rtH Ht rtH : tổng số vốn con người (Stock of human capital) Ht : Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn con người (Rate of return to human capital) (Becker, 1964). Block (1970), đã nhận định về lý thuyết vốn con người ở trên là một khái niệm đơn giản. Ông cho rằng không thể hiểu hoạt động của con người khác hơn là trao đổi hàng hoá và khái niệm về vốn được sử dụng hoàn toàn là định lượng. Các phê bình khác được tranh luận ở đây là dựa trên giả định trong thực tế giáo dục làm cải thiện năng suất và do đó có thể giải thích mức lương cao hơn.
Giả định này thật sự là như thế nào? Các nhà lý luận rõ ràng đã không đưa vào khía cạnh của việc chuyển giao học tập. Thời gian của giáo dục và đào tạo thực sự có thể tăng năng suất? Tuy nhiên còn có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến tiền lương cụ thể như sự khác biệt tiền lương ở các khu vực khác nhau. Tiền lương được trả cũng phụ thuộc vào loại ngành công nghiệp của người lao động. Trong một số ngành công nghiệp thì việc trả tiền lương được quy định bởi các công đoàn.
Để đánh giá và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập cá nhân, Tiến sĩ Joop Hartog, trường Erasmus University, Rotterdam (1980) tiến hành nghiên cứu với dữ liệu thu nhập từ nguồn Tổng điều tra dân số (Census of Population) của Cục điều tra dân số Mỹ (U.S Bureau of the Census, 1950, 1960, 1970) và Sở lao động của Mỹ (U.S Department of Labor, 1965) đề cập đến các biến có mối quan hệ với thu nhập cá nhân của người làm công ăn lương và mối quan hệ giữa các biến. Một phân loại được 10 thực hiện như sau: các biến số từ (1 - 3) dưới đây cho thấy sự khác biệt trong các nhiệm vụ mà cá nhân thực hiện, trong khi các biến (4 - 11) cho thấy sự khác biệt giữa các cá nhân khác nhau. Nhóm thiết lập đầu tiên của các biến (1 - 3) kéo theo một sự phân biệt về nhu cầu lao động hoặc các nhiệm vụ (nhóm khác biệt công việc), trong khi các thiết lập sau (4 - 11) đòi hỏi sự phân biệt nguồn cung cấp lao động, hoặc giữa những người lao động với nhau (nhóm khác biệt cá nhân). Công việc và nghề nghiệp (Job and occupation): tuỳ từng công việc và nghề nghiệp (nhóm công việc) khác nhau thì thu nhập của người lao động cũng khác nhau đáng kể.
Biến này là biến định tính cơ bản và căn cứ vào biến này có thể sắp xếp thu nhập của từng lao động với từng công việc (nghề nghiệp) khác nhau. McCormick và các đồng sự (Jeanneret và Mecham, 1972) thực hiện nghiên cứu theo phương pháp McCormick, đánh giá phân tích nghề nghiệp và thu nhập trên cơ sở thang đo với Bảng câu hỏi phân tích nghề nghiệp (Position Analysis Questionaire - PAQ) để đo lường các nhân tố tác động đến thu nhập ở các nghề nghiệp khác nhau với 189 thành tố. 5 mảng chính được đánh giá có liên quan đến thu nhập của chính cá nhân, đó là: a. Quyết định, giao tiếp và mối quan hệ xã hội.
Kỹ năng thành thạo công việc. Khả năng thích ứng với các điều kiện/môi trường thay đổi. Sử dụng trang thiết bị/phương tiện/máy móc e. Hoạt động xử lý thông tin.