Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp xây dựng và vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Khám phá những yếu tố quyết định đầu tư của doanh nghiệp xây dựng và vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

81
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài

1.2. Các nguyên cứu trong nước

1.3. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP

2.1. Cơ sở lý thuyết về quyết định đầu tư của doanh nghiệp

2.1.1. Định nghĩa đầu tư doanh nghiệp

2.1.2. Sự cần thiết của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp

2.1.3. Vai trò của quyết định đầu tư của doanh nghiệp

2.1.4. Phân loại quyết định đầu tư của doanh nghiệp

2.2. Các lý thuyết cơ bản về quyết định đầu tư của doanh nghiệp

2.2.1. Lý thuyết về vốn và đầu tư

2.2.2. Hiệu quả cận biên của lý thuyết đầu tư

2.2.3. Lý thuyết tân cổ điển

2.2.4. Lý thuyết Q của Tobin

2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp trong nghiên cứu

2.3.1. Dòng tiền hoạt động

2.3.3. Đòn bẩy tài chính

2.3.4. Tỷ lệ sinh lời

2.3.5. Vòng quay tài sản cố định

2.3.6. Tăng trưởng doanh thu thuần

2.3.7. Tỷ suất thanh toán hiện hành

2.3.8. Quy mô doanh nghiệp

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thu thập dữ liệu

3.2. Phương pháp thu nhập dữ liệu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.4. Xây dựng mô hình nghiên cứu

3.4.1. Mô hình nghiên cứu

3.4.2. Biến phụ thuộc

3.4.3. Biến độc lập

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả dữ liệu

4.2. Tương quan giữa các biến trong mô hình

4.3. Lựa chọn mô hình hồi quy

4.4. Ước lượng lại mô hình FEM

4.5. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến

4.6. Kiểm định tự tương quan

4.7. Kiểm định phương sai số thay đổi

4.8. Mô hình hồi quy FGLS

4.9. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Tóm tắt nghiên cứu

5.2. Hạn chế nghiên cứu

5.3. Hướng nghiên cứu trong tương lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Những Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Đầu Tư

Quyết định đầu tư của doanh nghiệp xây dựng tại thị trường chứng khoán Việt Nam là một vấn đề phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Việc hiểu rõ các nhân tố này không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chiến lược đầu tư mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành xây dựng. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, từ đó đưa ra những khuyến nghị hữu ích cho các doanh nghiệp trong ngành.

1.1. Các Nhân Tố Nội Tại Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Đầu Tư

Các yếu tố nội tại như dòng tiền, đòn bẩy tài chính và tỷ suất sinh lời đóng vai trò quan trọng trong quyết định đầu tư. Dòng tiền hoạt động mạnh mẽ giúp doanh nghiệp có khả năng tài chính tốt hơn để thực hiện các dự án đầu tư. Đòn bẩy tài chính cũng ảnh hưởng đến khả năng đầu tư, khi doanh nghiệp sử dụng nợ để mở rộng quy mô hoạt động.

1.2. Các Nhân Tố Ngoại Tại Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Đầu Tư

Ngoài các yếu tố nội tại, các yếu tố ngoại tại như tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách của nhà nước và xu hướng thị trường cũng có tác động lớn đến quyết định đầu tư. Sự biến động của thị trường chứng khoán có thể ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư và quyết định đầu tư của doanh nghiệp.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Quyết Định Đầu Tư Của Doanh Nghiệp

Doanh nghiệp xây dựng thường phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình ra quyết định đầu tư. Những thách thức này không chỉ đến từ yếu tố nội bộ mà còn từ môi trường bên ngoài. Việc nhận diện và phân tích các vấn đề này là rất cần thiết để đưa ra các giải pháp hiệu quả.

2.1. Rủi Ro Đầu Tư Trong Ngành Xây Dựng

Rủi ro đầu tư là một trong những vấn đề lớn mà doanh nghiệp xây dựng phải đối mặt. Các yếu tố như biến động giá nguyên vật liệu, thay đổi chính sách và tình hình cạnh tranh có thể làm tăng rủi ro cho các dự án đầu tư.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Dự Đoán Xu Hướng Thị Trường

Dự đoán xu hướng thị trường là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp. Sự thay đổi nhanh chóng của thị trường chứng khoán và nhu cầu xây dựng có thể khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc lập kế hoạch đầu tư.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Đầu Tư

Để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, phương pháp phân tích định lượng sẽ được áp dụng. Phương pháp này giúp xác định mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính và quyết định đầu tư của doanh nghiệp.

3.1. Phân Tích Dữ Liệu Tài Chính

Phân tích dữ liệu tài chính là bước quan trọng trong nghiên cứu. Dữ liệu sẽ được thu thập từ các báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 2016 đến 2023.

3.2. Xây Dựng Mô Hình Nghiên Cứu

Mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng dựa trên các biến độc lập như dòng tiền, đòn bẩy tài chính và tỷ suất sinh lời. Mô hình hồi quy sẽ được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến này và quyết định đầu tư.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Quyết Định Đầu Tư Của Doanh Nghiệp

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp xây dựng. Những phát hiện này sẽ giúp doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược đầu tư một cách hiệu quả hơn.

4.1. Tác Động Của Dòng Tiền Đến Quyết Định Đầu Tư

Nghiên cứu cho thấy dòng tiền có tác động tích cực đến quyết định đầu tư. Doanh nghiệp có dòng tiền dồi dào thường có xu hướng đầu tư nhiều hơn vào các dự án mới.

4.2. Ảnh Hưởng Của Đòn Bẩy Tài Chính

Đòn bẩy tài chính cũng được xác định là một yếu tố quan trọng. Doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho các dự án đầu tư có thể gia tăng lợi nhuận, nhưng cũng phải đối mặt với rủi ro cao hơn.

V. Kết Luận Và Đề Xuất Chiến Lược Đầu Tư Hiệu Quả

Kết luận từ nghiên cứu sẽ chỉ ra những nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp xây dựng. Đồng thời, các đề xuất chiến lược đầu tư sẽ được đưa ra nhằm tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp.

5.1. Đề Xuất Chiến Lược Đầu Tư Dựa Trên Phân Tích

Các doanh nghiệp nên xây dựng chiến lược đầu tư dựa trên phân tích kỹ lưỡng các yếu tố tài chính và thị trường. Việc này sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận.

5.2. Hướng Tương Lai Của Ngành Xây Dựng

Ngành xây dựng tại Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát triển. Doanh nghiệp cần nắm bắt xu hướng và điều chỉnh chiến lược đầu tư để phù hợp với tình hình thị trường.

10/07/2025
Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp xây dựng và vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Theo như các nghiên cứu Modigliani và Miller (1958), nhóm tác giả đã giả định rằng “Trong thị trường vốn hoàn hảo và không có chi phí, quyết định đầu tư của một công ty không phụ thuộc vào điều kiện tài chính của nó bằng nguồn tài trợ bên ngoài. Sự thay thế hoàn hảo cho vốn nội bộ của công ty và chi phí sử dụng các quỹ này là như nhau”. Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp thường gặp rất nhiều hạn chế khi tiếp xúc với các nguồn tài trợ bên ngoài, do đó hoạt động quyết định đầu tư sẽ phụ thuộc nhiều vào dòng tiền tài chính nội bộ của doanh nghiệp. Tiếp theo, lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling (1976) giải thích tại sao một công ty phải đối mặt với chi phí lãi vay cao hơn không cố gắng kiếm tiền từ các nguồn khác (ví dụ như: nợ, thị trường chứng khoán).

Vấn đề nảy sinh khi có xung đột lợi ích giữa người quản lý, chủ nợ và cổ đông vì những mục tiêu khác nhau. Chi phí của một giao dịch kết hợp với các vấn đề về nợ và vốn cổ phần có thể làm tăng chi phí tài trợ bên ngoài. Nợ là kênh tài trợ bên ngoài duy nhất có sẵn cho một công ty. Nợ tài chính cho phép chủ nợ được hưởng lãi khi thanh toán và nhận được tiền gốc khi đến hạn.

Nếu thanh toán không đúng hạn thì tài sản đã thanh toán của công ty sẽ được bán để gây quỹ. Thường có tài sản trong một dự án đầu tư; do đó, việc thu hồi vốn sau khi thanh lý là rất khó khăn. Trong trường hợp này, để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, họ sẽ tạo bất lợi cho người nợ phải trả lãi cao hơn, hạn chế quy mô khoản vay. Thêm vào đó, một lượng lớn tài liệu thực nghiệm theo sau, Fazzari và cộng sự.

(1988), sử dụng tỷ lệ chi trả cổ tức làm thước đo hạn chế tài chính, xem xét đầu tư dưới ảnh hưởng của dòng tiền, cơ hội đầu tư và tỷ lệ lợi nhuận trên giá trị vốn chủ sở hữu. Nghiên cứu của nhóm tác giả này cho thấy các doanh nghiệp có nguồn tài chính hạn chế nhạy cảm hơn với các khoản đầu tư so với các doanh nghiệp có ít hoặc không có hạn chế về tài chính. Hoshi và cộng sự (1991) nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và quyết định đầu tư của các doanh nghiệp ở Nhật Bản, theo nhóm các doanh nghiệp thuộc Keiretsu (một dạng của tập đoàn kinh tế ở Nhật Bản) và các doanh nghiệp không thuộc Keiretsu. Kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp không 4 thuộc Keiretsu (có nhiều hạn chế về tài chính) sẽ có khoản đầu tư nhạy cảm với tiền mặt hơn các doanh nghiệp Keiretsu.

Tuy nhiên, Kaplan và Zingales (1997) đã bác bỏ kết quả của Fazzari et al. Họ nghiên cứu cách sử dụng quen thuộc của độ nhạy đầu tư đối với dòng tiền. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những hạn chế về tài chính càng ít ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của công ty thì chúng càng nhạy cảm hơn với sự sẵn có của dòng tiền. Ngoài ra, Gomes (2001) cho thấy rằng sự hiện diện hay vắng mặt của mâu thuẫn tài chính là không đủ để tạo ra những tác động đáng kể của dòng tiền và cũng không cần thiết phải có những hiệu ứng dòng tiền này.

Hubbard (1998) đã phân tích các yếu tố khác nhau bao gồm kiểm kê đầu tư, nghiên cứu và phát triển, việc làm, hình thành và tồn tại của doanh nghiệp, định giá và quản lý rủi ro doanh nghiệp để xác định mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định đầu tư sử dụng Dữ liệu Hoa Kỳ. Kết quả của Hubbard ủng hộ mạnh mẽ rằng có mối quan hệ quan trọng giữa đầu tư và thay đổi giá trị ròng. Nghiên cứu của Hall et al. (1998) đã sử dụng phiên bản dữ liệu bảng của phương pháp Var để xem xét các yếu tố quyết định đầu tư vào các công ty khoa học của Hoa Kỳ, Pháp và Nhật Bản trong giai đoạn 1979-1989.

Họ nhận thấy rằng có mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa đầu tư và lợi nhuận, doanh thu và dòng tiền và những mối quan hệ này khác nhau giữa các quốc gia. Carpenter và Guariglia (2008) cũng phân tích các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư với những phát hiện hỗ trợ các nghiên cứu trước đó. Đặc biệt, họ ước tính sự hồi quỹ đầu tư làm nổi bật bộ mặt của các công ty bị hạn chế tài chính ở các công ty Anh trong giai đoạn 1983-2000. Họ quan sát thấy rằng dòng tiền không thể giải thích được bản chất nhạy cảm về quyết định đầu tư của các công ty lớn.

Tuy nhiên, khả năng diễn giải của nó vẫn giống nhau đối với các công ty nhỏ. Điều này cho thấy tầm quan trọng của biến dòng tiền trong phương trình đầu tư có thể do sự bất cân xứng thông tin trên thị trường vốn.2 Các nguyên cứu trong nước Chỉ có một số nhóm nhà nghiên cứu đang cố gắng giải quyết vấn đề này vì nó liên quan đến kịch bản ở Việt Nam, trong khi quyết định đầu tư của các doanh nghiệp đã trở thành một vấn đề lớn trong những năm gần đây. Cụ thể, Ninh L. (2007) 5 phân tích một số yếu tố tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp tư nhân ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, các biến số khác như cơ hội đầu tư, khu vực hoặc rủi ro kinh doanh và các yếu tố kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư ở cấp độ công ty vẫn chưa được phân tích. Do đó, nghiên cứu này đề xuất điều tra tình huống này vì nó liên quan đến quy mô lớn hơn để khắc phục các vấn đề liên quan. Tiếp đến với nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư ở Việt Nam có nhóm tác giả Phạm Lê Thông, Lê Khương Ninh, Lê Tấn Nghiêm, Phan Anh tú và Huỳnh Việt Khải (2008). Kết quả của nghiên cứu từ 294 doanh nghiệp ngoại quốc doanh ở Kiên Giang cho thấy rằng đầu tư của các doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào vốn tự có.

Vốn này thường được tích luỹ từ lợi nhuận của các năm trước. Sự tăng trưởng của lợi nhuận đối với các doanh nghiệp tạo điều kiện cho việc tích luỹ vốn để đầu tư. Tuy nhiên, do bị hạn chế về vốn tự có, các doanh nghiệp ngoại quốc doanh phụ thuộc vào việc vay vốn từ các ngân hàng thương mại. Đồng thời, đầu tư của họ cũng phụ thuộc vào tăng trưởng doanh thu trong quá khứ, mà cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như năng lực tự nhiên và môi trường kinh doanh.

Quy mô của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, với các doanh nghiệp lớn thường có tốc độ mở rộng chậm hơn. Ngoài ra, khả năng mở rộng mặt bằng cũng ảnh hưởng tiêu cực đến lượng đầu tư, với các doanh nghiệp có khả năng mở rộng mặt bằng cao thường đầu tư ít hơn do kiếm được lợi nhuận từ việc đầu cơ đất đai. Lê Bảo Lâm & Lê Văn Hướng (2012) cũng đã nghiên cứu về về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư từ việc phân tích dữ liệu điều tra về doanh nghiệp Tiền Giang năm 2010, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy logistic để xác định vè cho tháy kết quả rằng có 7 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Các yếu tố này bao gồm: (1) Tổng số lao động, (2) Tổng tài sản, (3) Tổng doanh thu, (4) Lợi nhuận trước thuế, (5) ROA, (6) Vốn chủ sở hữu và (7) Loại hình doanh nghiệp tư nhân.

Ngoài ra, các biến số như ROE, ROS, giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh chính cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Đinh Văn Khuê (2013) đã nghiên cứu đề tài “Phân tích ảnh hưởng của tỷ lệ nợ lên quyết định đầu tư : Bằng chứng từ các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng 6 khoán TP. Tác giả đã lựa chọn các công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE trong gia đoạn 2009 – 2012. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng tỷ lệ nợ có tác động ngược chiều lên đầu tư cố định của các công ty.

Trong quá trình nghiên cứu, hầu hết các nghiên cứu trước đó đã chỉ ra rằng hoặc tỷ lệ nợ của các công ty tăng trưởng thấp có tác động tích cực lên đầu tư, hoặc tỷ lệ nợ của các công ty tăng trưởng cao có tác động tiêu cực lên đầu tư, ít nghiên cứu cho thấy rằng cả hai tỷ lệ nợ của các loại công ty này đều có tác động tiêu cực lên đầu tư. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ ra rằng tỷ lệ nợ tổng, tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ nợ vay ngắn hạn của cả hai loại công ty tăng trưởng cao và tăng trưởng thấp đều có tác động tích cực lên đầu tư cố định. Đối với tỷ lệ nợ vay dài hạn, chỉ tỷ lệ nợ vay dài hạn của các công ty tăng trưởng cao mới có tác động ngược chiều lên đầu tư cố định. Trong cùng năm đó nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trang & Trang Thúy Quyên (2013) đã nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa sử dụng đòn bẩy tài chính và quyết định đầu tư”.

Nhóm thực hiện nghiên cứu trên một mẫu gồm 264 công ty đã niêm yết trước năm 2010 trên 2 sàn HOSE và HNX , trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến 2011. Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên dữ liệu bảng và được thực hiện hồi quy bằng ba phương pháp khác nhau: OLS, FEM, REM. Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tích cực đến quyết định đầu tư của cả mẫu và các công ty tăng trưởng cao trong mẫu nghiên cứu. Tuy nhiên, đối với các công ty tăng trưởng thấp, đòn bẩy tài chính lại có tác động tiêu cực đến quyết định đầu tư.

Trần Thị Ánh Nguyệt ( 2014) đã nghiên cứu về tác động của đồn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam bằng việc sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp LS kết hợp với dữ liệu bảng. Kết quả nghiên cứu từ 150 công ty phi tài chính trên HOSE Và HNX trong giai đoạn 2007-2013 cho thấy sử dụng đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều đối với quyết định đầu tư của doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Những Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Đầu Tư Của Doanh Nghiệp Xây Dựng Tại Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư của doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng. Tài liệu này không chỉ phân tích các yếu tố kinh tế, chính trị, và xã hội mà còn chỉ ra cách mà những yếu tố này tác động đến sự phát triển và bền vững của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích giúp họ hiểu rõ hơn về môi trường đầu tư, từ đó đưa ra quyết định đầu tư thông minh hơn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ kinh tế ảnh hưởng của cảm nhận tham nhũng lên đầu tư tư nhân ở các quốc gia chuyển đổi, nơi phân tích tác động của tham nhũng đến đầu tư tư nhân. Ngoài ra, tài liệu Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư gen z tại hà nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tâm lý và hành vi đầu tư của thế hệ trẻ. Cuối cùng, tài liệu Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nƣớc ngoài fdi trong lĩnh vực chế biến chế tạo tại việt nam sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về đầu tư nước ngoài trong ngành chế biến, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến xây dựng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và có cái nhìn toàn diện hơn về đầu tư trong bối cảnh hiện tại.