chương 1 tác giả tìm hiểu về các nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Có thể thấy đề tài về các nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư chứng khoán luôn được các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài quan tâm. Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra khoảng trống nghiên cứu đối với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân gen Z tại Hà Nội”. Thị trường chứng khoán luôn thay đổi, quan điểm về đầu tư của NĐT thay đổi, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của NĐT cũng thay đổi theo vì vậy nghiên cứu sẽ đưa thêm các nhân tố mới để kiểm nghiệm mức độ tác động đến quyết định đầu tư, trong đó có yếu tố công nghệ.
11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA NĐT GEN Z 2. Những vấn đề cơ bản về đầu tư chứng khoán 2. Khái niệm đầu tư chứng khoán Khái niệm TTCK Thuật ngữ “Thị trường” là một khái niệm cơ bản của kinh tế học và được nhiều nhà kinh tế học định nghĩa. Xét về bản chất, thị trường là mối quan hệ kinh tế tổng hợp của 5 thành tố: hàng hoá, cung cầu, giá cả, phương thức giao dịch và thanh toán.
Vì vậy, TTCK là thị trường diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch mua bán chứng khoán (Đinh Văn Sơn, 2009). Việc mua bán này được diễn ra ở thị trường sơ cấp khi người mua mua chứng khoán lần đầu từ người phát hành và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại. Thị trường diễn ra việc mua và bán cổ phiếu được gọi là thị trường cổ phiếu (Zuravicky, 2005). Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, và như vậy, thực chất đây là quá trình vận động của tư bản chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
Đây là nơi hỗ trợ Chính phủ và các doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội đầu tư cho NĐT trên thị trường. TTCK đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định của các NĐT và nó cũng cải thiện hiệu quả quản trị doanh nghiệp (Samuel, 1996). Có thể nói, TTCK chính là nơi thị trường diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch mua bán chứng khoán, và cũng là thước đo cho sức mạnh và sự phát triển kinh tế. Vì vậy, thông qua xu hướng biến động của TTCK ta thấy được tình hình phát triển kinh tế của quốc gia đó (Hiếu, 2020).
Đầu tư thường đến từ của việc từ bỏ tiêu dùng theo Kevin A. Ở một xã hội nông nghiệp là chủ yếu, sau vụ thu hoạch người ta phải quyết định phân chia ngũ cốc ra bao nhiêu phần để ăn và bao nhiêu để tiết kiệm cho vụ mùa tiếp theo. Trong một xã hội hiện đại hơn, năng lực sản xuất được phân bổ để sản xuất hàng tiêu dùng như bánh mì kẹp thịt và xúc xích cũng như hàng hóa đầu tư như xưởng đúc chất bán dẫn. Nếu chiếc bánh mì kẹp thịt trị giá một đô la được tạo ra ngày hôm nay, tổng sản phẩm quốc gia sẽ cao hơn một đô la.
Tương tự, nếu 13 xưởng đúc chất bán dẫn trị giá một đô la được tạo ra ngày hôm nay, tổng sản phẩm quốc gia cũng sẽ cao hơn một đô la và sẽ tiếp tục cao hơn vào năm tới vì xưởng đúc vẫn sẽ sản xuất chip máy tính rất lâu sau khi bánh hamburger biến mất. Đây là cách mà việc đầu tư dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế. Theo Tô Kim Ngọc và Trần Thị Xuân Anh (2020) cho rằng: Đầu tư nói chung là một dạng góp vốn vào hoạt động thuộc các lĩnh vực kinh tế, xã hội để thu về những lợi nhuận mong đợi trong tương lai. Nguồn vốn đầu tư không những thuần tuý là giá trị tài sản vật chất gồm tiền vốn, ruộng đất, nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị, hàng hoá,.
mà còn có các loại tài sản vô hình gồm sáng chế, bản quyền, thương hiệu hàng hoá, bí quyết công nghệ, uy tín doanh nghiệp, bí mật thương mại, quyền thăm dò khai thác, nguồn tài nguyên đến sự tăng trưởng kinh tế. Đầu tư chứng khoán hay còn gọi là đầu tư tài chính được thể hiện dưới hình thức người đầu tư bỏ tiền mua các công cụ tài chính nhằm mục đích hưởng các khoản thu nhập định kỳ hoặc lãi vốn do việc tăng giá của các công cụ đó. Khác với hình thức đầu tư trực tiếp tài sản thực, khi người đầu tư bỏ tiền mua sắm tài sản hữu hình hay vô hình để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và thu lợi trên cơ sở chênh lệch giữa doanh thu và chi phí sản xuất; đầu tư chứng khoán là hình thức đầu tư gián tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, tại đó NĐT cam kết bỏ vốn mua và nắm giữ các tài sản tài chính trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thu được các khoản thu nhập trong tương lai dưới dạng cổ tức, trái tức tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, mối liên kết giữa đầu tư tài chính và đầu tư tài sản thực là rất chặt chẽ.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các tài sản thực được áp dụng để tạo ra lợi nhuận, khoản lợi nhuận này sẽ được phân phối cho các NĐT theo tỷ lệ sở hữu tài sản tài chính của họ hoặc chứng khoán được phát hành. Ví dụ, người sở hữu trái phiếu sẽ nhận được một phần lợi nhuận dựa trên lãi suất và mệnh giá của trái phiếu. Người sở hữu cổ phiếu, sau khi các trái chủ và các chủ nợ khác của doanh nghiệp đã được thanh toán đầy đủ, có quyền đối với phần còn lại của lợi nhuận. Theo cách phân phối lợi nhuận này, giá trị của tài sản tài chính bắt nguồn 14 và phụ thuộc vào giá trị của các tài sản thực đã được dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tài sản thực tạo ra hàng hóa và dịch vụ, trong khi tài sản tài chính được xem là sự phân bổ thu nhập hoặc của cải giữa các nhà đầu tư. Nhà đầu tư cá nhân có thể lựa chọn giữa tiêu dùng thu nhập, của cải ngày hôm nay hoặc đầu tư cho tương lai. Khi họ đầu tư cho tương lai, họ có thể lựa chọn nắm giữ tài sản tài chính. Số tiền doanh nghiệp nhận được khi phát hành chứng khoán (bán chứng khoán cho NĐT) được sử dụng để mua tài sản thực.
Cuối cùng, thu nhập từ tài sản thực cũng là nguồn thu nhập của tài sản tài chính. Do đó, tài sản tài chính được xem là một công cụ đầu tư và NĐT được quyền hưởng thu nhập trên tài sản thực trong một nền kinh tế phát triển. Ví dụ, hầu hết chúng ta không thể tự mình sở hữu doanh nghiệp sản xuất máy tính (tài sản thực) nhưng chúng ta có thể nắm giữ cổ phiếu của Apple hoặc Dell (tài sản tài chính) và những cổ phiếu này mang đến thu nhập từ việc bán sản phẩm máy tính của doanh nghiệp. Việc lựa chọn và quyết định mua chứng khoán là quá trình đầu tư tài chính.
Quy trình và nguyên tắc đầu tư chứng khoán được quyết định bởi môi trường đầu tư chứng khoán, thể hiện qua đặc điểm của chứng khoán và thị trường chứng khoán, hệ thống giao dịch chứng khoán. Tóm lại, đầu tư chứng khoán là việc bỏ vốn vào một lĩnh vực nào đó để nhằm đạt được mục tiêu xác định. Tương ứng với tính chất bỏ vốn và mục tiêu đầu tư, đầu tư bao gồm nhiều loại như: đầu tư cho tiêu dùng và đầu tư cho sản xuất kinh doanh, đầu tư của Chính phủ và đầu tư của cá nhân, đầu tư không vì mục tiêu lợi nhuận và đầu tư vì mục tiêu lợi nhuận. Đầu tư chứng khoán là một trong những loại đầu tư vì mục tiêu lợi nhuận 2.
Đặc điểm của đầu tư chứng khoán 2. Đặc điểm của đầu tư chứng khoán Theo nhận định của Tô Kim Ngọc và Trần Thị Xuân Anh (2020), cho rằng: Thứ nhất, hình thức đầu tư chứng khoán được xem là hình thức linh hoạt trong lĩnh vực đầu tư tài chính do tính thanh khoản cao của các chứng khoán. Từ 15 tính thanh khoản, việc đầu tư và rút vốn dưới hình thức mua bán chứng khoán trên thị trường có thể được thực hiện một cách linh hoạt. Thứ hai, so với việc gửi tiết kiệm, việc đầu tư chứng khoán thường mang lại mức lợi nhuận kỳ vọng cao hơn.
Đi kèm với đó thì rủi ro tiềm ẩn cũng lớn hơn. Với đặc trưng này, các NĐT sẵn sàng đánh đổi để có thu nhập kỳ vọng cao phù hợp với việc đầu tư chứng khoán hơn. Thứ ba, việc đầu tư chứng khoán được tiến hành thông qua kênh tài chính trực tiếp nhưng các giao dịch này thường được thực hiện thông qua các trung gian. Vai trò của đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư Thực tế phát trưởng kinh tế tại các nước trên toàn cầu đã cho thấy vai trò to lớn của việc đầu tư chứng khoán đối với nền kinh tế.
Theo Warren Buffett (1978), việc đầu tư vào chứng khoán ngày nay không chỉ đơn giản là mua cổ phiếu mà nằm ở việc mua quyền sở hữu của công ty đó. Vì vậy, chúng ta thấy rằng việc mua cổ phiếu của công ty chứng khoán đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ được thừa hưởng những quyền lợi do công ty chứng khoán đem đến trong tương lai. Có thể nói đầu tư chứng khoán có vai trò cực kỳ quan trọng. Đối với NĐT: Đầu tiên, việc có được thu nhập thụ động hấp dẫn và khả năng sinh lời cao là lợi ích hấp dẫn từ đầu tư chứng khoán.
Khoản thu nhập thụ động từ việc đầu tư chứng khoán có thể tạo ra số tiền lớn trong tương lai nếu mỗi người được đầu tư đủ thời gian và kỷ luật. Tiếp theo, việc đầu tư chứng khoán có thể giúp khả năng hiện thực hóa các mục tiêu tài chính lớn được tăng cường. Trên con đường của kế hoạch tài chính cá nhân, mỗi người đều thiết lập nhiều mục tiêu tài chính khác nhau. Tuy nhiên, với thu nhập trung bình của người Việt Nam, việc hiện thực hóa chúng là một hành trình khó khăn và cần nhiều thời gian.
Vì vậy, việc hiện thực hóa các mục tiêu tài chính thông qua đầu tư chứng khoán có thể được coi là cách nhanh nhất để cơ hội hiện thực hóa các mục tiêu tài chính có thể được gia tăng bởi các NĐT.