Chương 1 tập trung làm rõ những vấn đề quan trọng như tính cấp thiết và lý do chọn đề tài; tình hình nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Trong chương này, tác giả tập trung làm rõ khung lý thuyết và lựa chọn mô hình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.
Tác giả làm sáng tỏ những vấn đề về phương pháp nghiên cứu như quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thang đo, bảng khảo sát, phương pháp phân tích thông tin. Kết quả nghiên cứu. Chương này bao gồm những phân tích về độ tin cậy của thang đo, phân tích EFA, hồi quy và kiểm định giả thuyết. Kết luận và hàm ý quản lý.
Trọng tâm của chương này tập trung đưa ra những hàm ý quản lý giúp làm tốt hoạt động quản lý đầu tư công trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tổng quan về hiệu quả quản lý đầu tư công 2. Một số khái niệm 2.
Khái niệm đầu tư công Vì là lĩnh vực quan trọng nên khái niệm đầu tư công nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Cũng vì vậy mà khái niệm này được cắt nghĩa theo nhiều quan điểm và góc nhìn khác nhau. Một cách hiểu đơn giản nhất và thường được đề cập trong các nghiên cứu là “hoạt động đầu tư sử dụng nguồn vốn của Nhà nước”. Nhà nước sử dụng vốn của mình để đầu tư vào những dự án phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội.
Tuy nhiên, một số tác giả cho rằng, nhà nước là chủ đầu tư cho nhiều dự án bằng ngân sách của nhà nước nhưng nhiều dự án nhà nước vẫn huy động vốn từ khu vực khác trong xã hội, gọi là khu vực tư. Tuy nhiên, việc định nghĩa dựa vào nguồn vốn khu vực tư và công không làm rõ được bản chất của đầu tư công. Luật Đầu tư công có đưa ra khái niệm đầu tư công. Luật Đầu tư công năm 2014 cho rằng “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”.
Đến năm 2019, “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật này”. Từ hai khái niệm được đề cập ở Luật Đầu tư công cho thấy, khái niệm năm 2019 ngắn gọn hơn và chung chung hơn nên có tính bao quát hơn. Tuy nhiên, về bản chất, cả hai khái niệm đều có một số điểm thống nhất như sau: Thứ nhất, cả hai khái niệm đều cho rằng Đầu tư công là hoạt động đầu tư của nhà nước. Có nghĩa là chủ thể của hoạt động đầu tư công là nhà nước.
Cả hai khái niệm đều nhấn mạnh vai trò là “người cầm trịch” của dự án là nhà nước chứ 9 không chỉ giữ vai trò về nguồn vốn. Thứ hai, cả hai khái niệm đều không đề cập đến nguồn vốn của ĐTC. Về vấn đề này tác giả Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng (2013) cho rằng nguồn vốn có thể bao gồm nhiều nguồn như: - Nguồn của nhà nước là vốn ngân sách, vốn tín dụng của Nhà nước cho đầu tư. Đây là nguồn vốn tự có của nhà nước.
Đây cũng có thể là nguồn vốn mà nhà nước đi vay từ các nguồn khác. - Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án không vì mục tiêu lợi nhuận và (hoặc) không có khả năng hoàn vốn trực tiếp. Đây là nguồn vốn của khu vực tư nhân, phần lớn được huy động thông qua chủ trương và các chương trình xã hội hoá. Thứ ba, cả hai khái niệm đều đề cập đến đối tượng của hoạt động đầu tư là các dự án phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển.
Tóm lại, từ những phân tích trên, Luận văn lựa chọn khái niệm của Luật Đầu tư công năm 2019, “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật này”. Khái niệm và đặc điểm của quản lý đầu tư công Đầu tư công là một trong những lĩnh vực quan trọng trong các lĩnh vực quản lý của cơ quan nhà nước. Cho nên lĩnh vực này đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước phải quản lý một cách chặt chẽ và hiệu quả. Nói cách khác, hoạt động quản lý đầu tư công cần phải dựa trên một số nguyên tắc nhất định.
Những nguyên tắc đó là: - Sự phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Dự án đầu tư công phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Điều này giúp hạn chế tình trạng lãng phí trong đầu tư, cũng như đầu tư không đúng trọng tâm, trọng điểm. - Nguyên tắc đúng mục tiêu và hiệu quả.
Dự án đầu tư phải đúng mục tiêu, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng, tiết kiệm và có hiệu quả. - Nguyên tắc công khai, minh bạch 10 - Nguyên tắc thống nhất quản lý nhà nước. Đây là nguyên tắc đảm bảo tránh chồng chéo và bỏ trống chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước. Nguyên tắc này phải đi cùng với sự phân cấp quản lý phù hợp giữa các cấp, các ngành và các cơ quan.
- Nguyên tắc đa dạng hình thức đầu tư. Đa dạng hóa các hình thức đầu tư công là nguyên tắc đảm bảo sự tham gia hiệu quả của khu vực công vào hoạt động đầu tư công, giúp nhanh chóng hoàn thiện cơ sở hạ tầng để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Liên quan đến khái niệm quản lý đầu tư công, có OECD, WB, IMF cùng đưa ra khái niệm. Tuy mỗi tổ chức có cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều có những điểm tương đồng về nội hàm khái niệm quản lý đầu tư công.
Họ cho rằng quản lý đầu tư công là “một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hướng lớn trong chính sách đầu tư công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi và đánh giá các dự án đầu tư cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tư công, qua đó đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển chung của nền kinh tế” (dẫn theo Vũ Thành Tự Anh, 2017). Tác giả Huỳnh Hùng Lực (2011) đưa ra định nghĩa "Quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm hỗ trợ các Chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu Nhà nước trong các dự án công, ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án. Kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách Nhà nước. Quản lý đầu tư công là quản lý các dự án, các công trình đầu tư công mà sản phẩm của đầu tư công là các công trình công cộng".
Từ những khái niệm trên có thể rút ra khái niệm ngắn gọn và bao quát như sau: quản lý đầu tư công là những hành động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tác động đến lĩnh vực đầu tư công để tạo ra các tác động tích cực đến sự 11 phát triển kinh tế - xã hội. Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của quản lý đầu tư công: Thứ nhất, chủ thể của quản lý đầu tư công là cơ quan nhà nước và những cơ quan khác có thẩm quyền được nhà nước giao. Vì chủ thể là cơ quan nhà nước nên hoạt động quản lý đầu tư công mang tính quyền lực nhà nước, gắn với quá trình sử dụng quyền lực nhà nước. Thứ hai, đầu tư công là hình thức đầu tư vốn Nhà nước vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh vì vậy có thể xem đầu tư công như là một hình thức đầu tư đặc biệt.
Thứ ba, quản lý đầu tư công có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước. Tuy không tạo ra lợi nhuận trực tiếp nhưng chúng gián tiếp thúc đầu thu hút đầu tư và phát triển các thành phần kinh tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Khái niệm hiệu quả và chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý đầu tư công Theo tác giả Nguyễn Đình Cung (2014), hiệu quả quản lý đầu tư công là việc quản lý để tạo ra các dự án đầu tư công có chất lượng và đạt kết quả cao. Theo đó, để đánh giá hiệu quả quản lý đầu tư công, cần đánh giá kết quả đầu tư.
Nguyễn Đình Cung (2014) cho rằng kết quả đầu tư cần được đánh giá với 4 biên độ: “Rất tốt” nếu điểm đánh giá từ 80% trở lên (A); “Tốt” nếu điểm đánh giá nằm trong khoảng từ 60% đến dưới 80% (B); “Trung bình” nếu điểm đánh giá nằm trong khoảng từ 50% đến dưới 60% (C) và “Kém” nếu điểm đánh giá thấp hơn 50% (D). Các biên độ đó được đo lường dựa trên các tiêu chí chính và tiêu chí thành phần. Bốn tiêu chí chính này nhất quán với các tiêu chí và tiêu chuẩn của Ủy ban Hỗ trợ Phát triển -OECD và được lựa chọn cho công tác đánh giá đầu tư công tại Việt Nam và được thể hiện ở Bảng dưới đây: 12 Bảng 2. Các tiêu chí và chỉ số đánh giá chính Tiêu chí Tiêu chí thành phần/chỉ tiêu chính - Lý do và luận chứng của chương trình, dự án - Sự nhất quán với mục tiêu/chiến lược/kế hoạch/quy hoạch cấp quốc gia, ngành và tỉnh - Sự cấp thiết và ưu tiên (cứu trợ thiên tai, an ninh Quốc gia.