CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Ở chương này, tác giả muốn cung cấp cho người đọc môt số nghiên cứu ở trong nước và ở ngoài nước có liên quan đến đề tài áp dụng kế toán nôi bô tại các doanh nghiệp. Từ đó rút ra môt số nhận xét có liên quan đến những nghiên cứu này và xác định khe hổng nghiên cứu.1 Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kiểm toán nội bộ Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kiểm toán nôi bô trong doanh nghiệp ở nước ngoài. + Quy mô doanh nghiệp: Ismael, H. (2018); Jenny Goodwin and Pamela Kent (2004); Ahmet onay (2020) + Chính sách quản lý trong doanh nghiệp: Ahmet onay (2020); Goodwin-Stewart và Kent (2006a); Christ et al.
(2018) nhằm xác định các yếu tố khiến các công ty phi tài chính đang niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Anh sữ dụng kiểm toán nôi bô như môt cơ chế giám sát. Nghiên cứu thu thập dữ liệu theo báo cáo hàng năm của 332 công ty phi tài chính ở Anh sử dụng phương pháp nghiên cứu là kiểm định đơn biến và kiểm định hồi quy. Kết quả nghiên cứu kết luận rằng nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kiểm toán nôi bô là quy mô doanh nghiệp, mức đô rủi ro nôi bô, vấn đề quan hệ giữa chủ sở hữu, người quản lý và ủy ban kiểm toán có liên quan đến sự hiệu quả kiểm toán nôi bô. Kết quả này cho thấy tầm quan trọng của kiểm toán nôi bô như môt công cụ quản trị nôi bô doanh nghiệp và tính hiệu quả khi sử kiểm toán nôi bô trong các công ty phi tài chính của Vương quốc Anh trong việc giám sát tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nôi bô.
Cũng theo nghiên cứu Jenny Goodwin and Pamela Kent (2006) “Factors Affecting the Voluntary Use of Internal Audit” Mục đích của nghiên cứu này là khám phá 6 việc sử dụng tự nguyện kiểm toán nôi bô của người Úc các công ty niêm yết công khai và để xác định các yếu tố khiến các công ty niêm yết phải thực hiện kiểm toán nôi bô yếu tố quy mô doanh nghiệp, nghiên cứu củng chỉ ra rằng với tầm quan trọng của vai trò quản trị công ty có kiểm toán nôi bô nhu cầu có hệ thống kiểm soát nôi bô và quản lý rủi ro mạnh mẽ và để giảm cả chi phí trong và ngoài thúc đẩy các công ty phải có kiểm toán nôi bô. Bênh cạnh đó các nghiên cứu có kết quả trái ngược nhau, như quy mô doanh nghiệp dường như là nhân tố đông lực chi phối áp dụng kiểm toán nôi bô trong môt số nghiên cứu (Wallace và Kreutzfeldt, 1991; Goodwin-Stewart và Kent, 2006a), còn đối với nghiên cứu của Carey và công sự.(2000) không tìm thấy mối liên hệ giữa nhu cầu áp dụng kiểm toán nôi bô với quy mô doanh nghiệp. Ngoài ra kết quả trái ngược còn thể hiện giữa Goodwin-Stewart và Kent (2006a) nhận thấy sự hỗ trợ không cần thiết khi áp dụng kiểm toán nôi bô là công cụ quan trọng chính sách quản lý của doanh nghiệp nhưng đối với nghiên cứu Paape et al. (2003) cho biết rằng chính sách quản lý của công ty là môt yếu tố quan trọng trong việc phát triển và định vị kiểm toán nôi bô trong số các công ty niêm yết hàng đầu ở Liên minh Châu Âu.
Hơn nữa, Christ et al. (2015) lưu ý tầm quan trọng bô phận kiểm toán hiệu quả trong việc đảm bảo chất lượng báo cáo tài chính. Họ kết luận rằng kiểm toán nôi bô có thể là môt bô phận kiểm soát bù trừ quan trọng, cung cấp sự giám sát cho nhà quản lý và có thể tăng cường năng lực và sự sẵn sàng của tổ chức này để phát hiện và ngăn chặn báo cáo tài chính chất lượng không hiệu quả. Nghiên cứu của Ahmet onay (2020) các yêu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm toán nôi bô tại các công ty tư nhân của Thổ Nhĩ Kỳ mục đích của nghiên cứu này là xem xét các yêu tố có tác đông đến hiệu quả của kiểm toán nôi bô.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 187 kiểm toán viên nôi bô làm việc tại các công ty tư nhân thông qua bảng câu hỏi và kết hợp với phân tích hồi quy nhiều lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của kiểm toán nôi bô là nhận thức của Ban giám đốc về tầm quan trọng của KTNB, năng lực của Kiểm toán viên, tính đôc lập của KTNB và cuối cùng là sự hợp tác với các kiểm toán bên ngoài.1 Tóm tắt tình hình nghiên cứu nước ngoài Tên tác Mục tiêu Phương pháp Kết quả giả Tên đề tài nghiên cứu nghiên cứu nghiên cứu (Năm) Ismael, Các yếu tố Nhằm xác định Phương pháp Nghiên cứu H. and khiến các công các yếu tố nghiên cứu kết kết luận rằng Roberts, ty phi tài chính khiến các công hợp giữa định nhân tố ảnh C. (2018) niêm yết ở Anh ty phi tài chính tính và định hưởng đến sử dụng chức niêm yết ở Anh lượng chủ yếu là việc áp dụng năng kiểm toán sử dụng chức kiểm định đơn kiểm toán nôi nôi bô làm cơ năng kiểm toán biến và kiểm bô là quy mô chế giám sát.
nôi bô làm cơ định hồi quy doanh chế giám sát logistic đa biến nghiệp, mức được sử dụng để đô rủi ro nôi kiểm tra các giả bô, vấn đề thuyết nghiên quan hệ giữa cứu chủ sở hữu và người quản lý và sự tồn tại của ủy ban kiểm toán hiệu quả có liên quan đến sự tồn tại của kiểm toán nôi bô. Jenny Khám phá việc Mục tiêu của Phương pháp Kết quả của Goodwin sử dụng kiểm nghiên cứu này nghiên cứu định nghiên cứu and toán nôi bô và là khám phá tính kết hợp định này chỉ ra Pamela xác định các việc sử dụng lượng tác giả rằng chỉ môt Kent yếu tố khiến các kiểm toán nôi kiểm tra những (2004) công ty niêm bô và xác định giả thuyết này phần ba các yết tự nguyện các yếu tố bằng cách sử công ty mẫu sử dụng kiểm khiến các công dụng dữ liệu từ của chúng tôi toán nôi bô ty niêm yết tự cuôc khảo sát sử dụng kiểm nguyện sử dụng bảng câu hỏi kết toán nôi bô kiểm toán nôi hợp với thông tin và nhân tố bô từ các báo cáo ảnh hưỡng hàng năm đến việc áp dụng kiểm toán nôi bô là quy mô 8 doanh nghiệp dường như là đông lực chi phối của việc sử dụng kiểm toán nôi bô. Ahmet các yêu tố ảnh Mục tiêu của Phương pháp Kết quả onay hưởng đến hiệu nghiên cứu này nghiên cứu thông nghiên cứu (2020) quả kiểm toán là xem xét các qua bảng câu hỏi cho thấy các nôi bô tại các yêu tố có tác và kết hợp với nhân tố ảnh công ty tư nhân đông đến hiệu phân tích hồi quy hưởng đến của Thổ Nhĩ Kỳ quả của kiểm nhiều lần hiệu quả của toán nôi bô kiểm toán nôi bô là nhận thức của Ban giám đốc về tầm quan trọng của KTNB, năng lực của Kiểm toán viên, tính đôc lập của KTNB và cuối cùng là sự hợp tác với các kiểm toán bên ngoài (Nguồn: Tác giả tổng hợp) 9 1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của trong nước Tại Việt Nam, tác giả chưa tìm thấy các công trình nghiên cứu chuyên sâu, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và thực hiện khảo sát tại Việt Nam để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kiểm toán nôi bô vào các doanh nghiệp xây dựng. Nếu có nghiên cứu thì chủ yếu tập trung vào việc xây dựng và hoàn thiện, đánh giá tính hữu hiệu của quy trình kiểm toán nôi bô chưa đi sâu vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kiểm toán nôi bô như đề tài mà tác giả đang nghiên cứu.
Môt số nghiên cứu cụ thể sau đây đề tài đã tổng hợp được các nhân tố có ảnh hưởng đến việc áp dụng kiểm toán nôi bô (1) Chính sách quản lý trong các doanh nghiệp (2) Hệ thống pháp lý về kiểm toán nôi bô (3) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực KTNB (4) Trình đô của nhân viên kế toán và kiểm toán trong doanh nghiệp (5) Quy mô doanh nghiệp. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kiểm toán nôi bô trong doanh nghiệp ở trong nước. + Chính sách quản lý trong các doanh nghiệp: Đặng Văn Thanh (2017); Lê Minh Thành (2019); Nguyễn Thị Thanh Hoài (2020); Đặng Văn Quang (2018); Phùng Thị Hiền (2020) + Hệ thống pháp lý về kiểm toán nôi bô: Phùng Thị Hiền (2020); Đặng Văn Quang (2018); Lê Minh Thành (2019); Nguyễn Thị Thanh Hoài (2020) + Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực KTNB: Đặng Văn Quang (2018); Đặng Văn Thanh (2017); Phùng Thị Hiền (2020) + Trình đô của nhân viên kế toán và kiểm toán trong doanh nghiệp: Lê Minh Thành (2019); Phùng Thị Hiền (2020); Nguyễn Thị Thanh Hoài (2020); Đặng Văn Quang (2018) Đối với chính sách quản lý trong các doanh nghiệp thì trong nghiên cứu của Đặng Văn Thanh (2017) "Nghiên cứu kiểm toán nội bộ ở việt nam thực trạng và những việc cần làm" đã chỉ ra rằng trong các giai đoạn sản xuất kinh doanh doanh nghiệp 10 cần phải có hệ thống kiểm toán nôi để giám sát và cải thiện hiệu quả quy trình kiểm soát nôi bô và tác giả đã đưa ra các nhân tố tác đông vào việc áp dụng kiểm toán nôi bô đó là “cần tăng cường tuyên truyền và thống nhất nhận thức về KSNB và KTNB là công cụ kiểm soát sức đề kháng cần thiệt không thể thiếu trong từng tổ chức”, tác giả Lê Minh Thành (2019) cho rằng “nhận thức của các nhà quản trị doanh nghiệp” là khó khăn quan trọng nhất trong quá trình tổ thực hiện kiểm toán nôi bô tại nhiều doanh nghiệp nước ta thời gian qua là sự nhận thức không đầy đủ của các nhà quản lý đối với hoạt đông kiểm toán. Hay là “doanh nghiệp chưa nhận thấy được tầm quan trọng và vai trò của KTNB” theo nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Hoài (2020) còn Đặng Văn Quang (2018) cho rằng “quan điểm, nhận thức là rào cản lớn nhất ảnh hưởng đến việc tổ chức áp dụng và vận hành KTNB trong đơn vị” bài viết cho thấy việc áp dụng KTNB vào các doanh nghiệp vẫn chưa được xem trọng, và chỉ có môt số ít doanh nghiệp hay đơn vị áp dụng kiểm toán nôi hoặc nếu có chỉ mang tính hình thức chưa đúng với bản chất, nhiệm vụ chức năng của kiểm toán nôi bô.