đặt vấn đề nghiên cứu) HƢƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU HƢƠNG 2 : N HƢƠNG 3 : PHƯ NG PHÁP NGHIÊN CỨU HƢƠNG 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HƢƠNG 5 : KẾT LU N IẾN NGH c 5 C ƢƠ 1 TỔNG QUAN VỀ VẤ Ề NGHIÊN CỨU hƣơng này trình bày c c nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã đƣợc thực hiện trên Thế giới và Việt Nam từ đó đƣa ra những nhận xét và hƣớng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Các nghiên cứu liên quan đến chất lƣợng kiểm toán Nghiên cứu của Jayanthi Krishnan (2005) Ủy ban Kiểm toán Chất lƣợng và Kiểm soát Nội bộ: Một phân tích thực nghiệm. Kiểm tra mối liên hệ giữa chất lƣợng của ban kiểm toán và chất lƣợng kiểm soát nội bộ của công ty.
Mặc dù thông tin về chất lƣợng kiểm soát nội bộ không có sẵn c c công ty thay đổi kiểm toán viên phải tiết lộ bất kỳ vấn đề kiểm soát nội bộ nào đƣợc chỉ ra bởi các kiểm toán viên tiền nhiệm của họ. Các kết quả thực nghiệm dựa trên sự so sánh của các công ty tiết lộ các vấn đề kiểm soát nội bộ nhƣ vậy với một mẫu kiểm soát của c c công ty thay đổi kiểm to n viên nhƣng không tiết lộ các vấn đề kiểm soát nội bộ. Chất lƣợng của ban kiểm toán đƣợc đo b ng ba chiều: quy mô, tính độc lập và chuyên môn của nó. Các vấn đề kiểm soát nội bộ đƣợc quan sát thấy ở hai mức độ gia tăng ngày càng nghiêm trọng: c c điều kiện b o c o và c c điểm yếu vật chất.
Giai đoạn mẫu trƣớc ngày có hiệu lực của những thay đổi chính sách gần đây liên quan đến các ủy ban kiểm toán. Kết quả cho thấy các ủy ban kiểm to n độc lập và các ủy ban kiểm toán có chuyên môn tài chính ít có khả năng liên quan đến tỷ lệ các vấn đề kiểm soát nội bộ. iều này đúng cho cả hai mức độ của các vấn đề kiểm soát nội bộ. Kết quả phù hợp với chính sách gần đây nhấn mạnh sự độc lập và chuyên môn của ủy ban kiểm toán.
Trong bài nghiên cứu về Chất lƣợng của ban kiểm soát, sự độc lập của kiểm to n viên và c c điểm yếu kiểm soát nội bộ. Báo cáo liên quan đến các yếu tố quyết định hạn chế kiểm soát nội bộ. Krishnan (2005) kiểm tra giai đoạn trƣớc khi ban hành SOX, khi các vấn đề kiểm soát nội bộ chỉ đƣợc tiết lộ trong 8-Ks do các công ty đệ trình khi thay đổi kiểm toán viên. Với thông tin thu thập đƣợc từ hồ sơ 8-K, c 6 cô nhận thấy r ng các ủy ban kiểm to n độc lập và các ủy ban kiểm toán có nhiều kiến thức chuyên môn về tài chính ít có khả năng liên quan đến tỷ lệ các vấn đề kiểm soát nội bộ.
Ge và McVay (2005) và Doyle et al. (Sắp xuất hiện) thấy r ng những điểm yếu trong kiểm soát nội bộ có nhiều khả năng xảy ra đối với các doanh nghiệp nhỏ hơn t sinh lời, phức tạp hơn tăng trƣởng nhanh chóng hoặc đang đƣợc cơ cấu lại. Ashbaugh-Skaife et al. (Tiếp theo) thấy r ng các công ty có hoạt động phức tạp hơn, những thay đổi gần đây trong cơ cấu tổ chức, sự từ chức của kiểm to n viên trong năm trƣớc, rủi ro kế toán nhiều hơn và t đầu tƣ vào hệ thống kiểm soát nội bộ có nhiều khả năng tiết lộ những thiếu sót về kiểm soát nội bộ.
chúng tôi còn cho thấy sự độc lập của kiểm toán viên là một yếu tố quyết định quan trọng đối với những điểm yếu trong kiểm soát nội bộ. iều này bổ sung cho các tài liệu hỗ trợ cho giả thuyết về sự độc lập của kiểm to n viên nhƣ Frankel et al. 2002 và Krishnamurthy et al. Khác với các nhà nghiên cứu khác, những ngƣời cũng tập trung vào giai đoạn hậu SOX nhƣ Ge và McVay 2005 oyle et al.
Sắp tới) và Ashbaugh-Skaife et al. (Sắp xuất bản), chúng tôi cho thấy r ng chất lƣợng của ban kiểm to n đặc trƣng là có nhiều chuyên môn hơn về tài chính hoặc đặc biệt là có nhiều kiến thức về kế toán tài chính và chuyên môn tài chính không phải là kế toán, là yếu tố quyết định quan trọng cho những điểm yếu trong kiểm soát nội bộ. Ngoài ra, chúng tôi thấy r ng sự độc lập của kiểm toán viên đƣợc t nh nhƣ tỷ lệ phí kiểm to n đối với tổng lệ ph cũng là một yếu tố quyết định c c điểm yếu kiểm soát nội bộ. Kể từ khi cơ quan kiểm soát nội bộ thuộc thẩm quyền của ủy ban kiểm to n Krishnan 2005 chúng tôi điều tra mối quan hệ giữa chất lƣợng của kiểm to n và c c điểm yếu trong kiểm soát nội bộ.
Ủy ban kiểm toán không chỉ đóng vai trò giám sát quan trọng đảm bảo chất lƣợng báo cáo tài chính và trách nhiệm giải trình của công ty (Carcello và Neal, 2000) mà còn là một cơ chế quản trị quan trọng bởi vì nguy cơ kiện tụng và sự suy giảm danh tiếng của các thành viên ủy ban kiểm to n ảm bảo r ng các thành viên của ủy ban kiểm toán này thực hiện trách nhiệm của mình một cách hiệu quả. o đó chúng tôi kỳ vọng r ng các công ty có ủy ban c 7 kiểm toán chất lƣợng cao ít có khả năng kiểm soát nội bộ so với các công ty có ủy ban kiểm toán chất lƣợng thấp. Theo nghiên cứu của Jeffrey T. Doyle, Weili Ge, và Sarah McVay (2007) Chất lƣợng dồi dào và Kiểm soát nội bộ về Báo cáo Tài chính.
Chúng tôi kiểm tra mối quan hệ giữa chất lƣợng dồn tích và kiểm soát nội bộ b ng cách sử dụng 705 công ty tiết lộ ít nhất một yếu điểm yếu từ th ng 8 năm 2002 đến th ng 11 năm 2005 và nhận thấy những điểm yếu nói chung liên quan đến các khoản dự phòng không đƣợc ƣớc tính là luồng tiền mặt. Hơn nữa, chúng tôi nhận thấy r ng mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ yếu kém và chất lƣợng dồn tích thấp là do sự tiết lộ yếu kém có liên quan đến các kiểm soát cấp tổng thể, có thể khó kiểm to n hơn. Những điểm yếu cụ thể. Chúng tôi tìm thấy các kết quả tƣơng tự b ng cách sử dụng bốn thƣớc đo bổ sung về chất lƣợng dồn tích: các quyết toán tùy ý, chất lượng trung bình tích lũy, quá trình lập kế hoạch lịch sử và sự tồn tại của thu nhập.
Kết quả của chúng tôi là mạnh mẽ để bao gồm c c đặc điểm vững chắc r ng proxy cho khó khăn trong ƣớc tính dự toán, yếu tố quyết định đƣợc biết đến những điểm yếu vật chất và sửa chữa cho sự thiên vị tự chọn lựa. Quản trị doanh nghiệp, Chất lƣợng kiểm to n và ạo luật Sarbanes-Oxley: B ng chứng từ Kiểm toán nội bộ Gia công phần mềm nghiên cứu của Lawrence J. Abbott , Susan Parker , Gary F. Peter và Dasaratha V.
Nghiên cứu này mở rộng các tài liệu hiện tại liên quan đến các dịch vụ không hoàn lại b ng c ch điều tra kiểm toán nội bộ gia công cho kiểm toán viên bên ngoài. Chúng tôi thừa nhận r ng một số loại gia công kiểm toán nội bộ nhất định (ví dụ nhƣ c c chƣơng trình phiroutine và do đó có khuynh hƣớng không mang tính chất tự phát) sẽ không dẫn đến kết nối kinh tế đồng thời mang lại tiềm năng đ ng kể cho việc cải tiến phạm vi và phạm vi kiểm to n khi đƣợc cung cấp bởi bên ngoài kiểm toán viên. Ngoài ra, các hoạt động kiểm toán nội bộ bên ngoài thƣờng có nhiều khả năng dẫn đến sự ràng buộc về kinh tế cũng nhƣ khả năng độc lập của kiểm toán viên nội bộ. Kết quả của chúng tôi phù hợp với các công ty có ủy ban kiểm to n độc lập, hoạt động và chuyên gia ít có khả năng thuê ngoài c c hoạt động c 8 kiểm toán nội bộ thƣờng xuyên cho kiểm toán viên bên ngoài.
Tuy nhiên, việc thuê ngoài các hoạt động kiểm toán nội bộ phi công t c nhƣ c c dự n đặc biệt và tƣ vấn EDP không có liên quan tiêu cực đến các ủy ban kiểm toán hiệu quả. Ngoài ra, thuê ngoài của một trong hai loại hoạt động kiểm toán nội bộ cho một nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài khác ngoài kiểm toán viên bên ngoài không liên quan đến các ủy ban kiểm toán hiệu quả. Nhìn chung, chúng tôi giải thích những phát hiện này nhƣ là hỗ trợ khả năng kiểm toán của ủy ban kiểm toán hiệu quả trong việc kiểm soát phạm vi kiểm toán toàn bộ (tức là bên trong và bên ngoài) của công ty đồng thời thể hiện mối quan tâm về sự độc lập của kiểm toán viên bên ngoài. Các nghiên cứu lên quan đến nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng của kiểm toán nội bộ Các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm to n: Trƣờng hợp các ngân hàng thƣơng mại nghiên cứu của Jordan.
Husam Al-Khaddash Bài báo này tập trung vào việc x c định các yếu tố quan trọng nhất ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán tại c c ngân hàng thƣơng mại Jordan (JCBs). Nhận thức của kiểm toán viên nội bộ và bên ngoài của JCB bên cạnh các nhà quản lý tài chính đã đƣợc điều tra. Nói chung ngƣời ta cho r ng chất lƣợng kiểm toán trong ngành ngân hàng ở Jordan khá tốt. Kết quả cho thấy sự tƣơng quan t ch cực và đ ng kể giữa chất lƣợng kiểm toán và hiệu quả kiểm toán, danh tiếng của văn phòng kiểm toán, phí kiểm toán, quy mô của công ty kiểm toán và sự thành thạo của kiểm toán viên.
Kết quả của nghiên cứu này đóng góp vào c c tài liệu hiện có trong lĩnh vực các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán ở c c nƣớc đang ph t triển phía đông nhƣ Jordan. Ngoài ra, nghiên cứu này bổ sung thêm b ng chứng về giá trị nghiên cứu hiệu quả kiểm toán, uy tín của công ty kiểm toán, phí kiểm toán, quy mô văn phòng kiểm toán và sự thành thạo của kiểm toán viên về chất lƣợng kiểm toán. Các nghiên cứu trƣớc đây cho thấy mối liên quan giữa chất lƣợng kiểm toán và một số yếu tố nhƣ kiểm soát nội bộ.