TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ LỚP DS44A3 - MÔN LUẬT HÌNH SỰ (PHẦN CHUNG) Giảng viên thảo luận: Phạm Thị Yến Nhóm: Chất Việt CỤM SỐ 4 Trưởng nhóm: Nguyễn Ý Quyết SĐT: 0979847658 Email: Hellotoro010101@gmail.com STT HỌ VÀ TÊN MSSV 1. Lê Thanh Qui 1953801012219 2. Lê Tấn Quốc 1953801012220 3. Nguyễn Thị Bích Quyên 1953801012222 4.
Lê Thị Thúy Quỳnh 1953801012224 6. Ngô Đinh Thúy Quỳnh 1953801012225 7. Nguyễn Đinh Diễm Quỳnh 1953801012226 8. Nguyễn Thị Như Quỳnh 1953801012227 9.
Phan Thúy Quỳnh 1953801012228 10. Lại Phước Sang 1953801012229 11. Nguyễn Thị Ngọc Tâm 1953801012234 13. Nguyễn Vũ Minh Tâm 1953801012235 14.
Phan Thị Thanh Tâm 1953801012236 1 A - Những nhận định sau đây là đúng hay sai? Tại sao? 1. Án tích là một trong những hình thức của trách nhiệm hình sự. Nhận định ĐÚNG. Giải thích: Trách nhiệm hình sự là sự phản ứng của nhà nước đối với tội phạm bằng cách áp dụng các tác động pháp lý hình sự bất lợi đối với người phạm tội.
Những tác động pháp lý đó là các hình thức trách nhiệm hình sự bao gồm việc kết án về một tội phạm, phải chịu hình phạt, phải thực hiện một số biện pháp tư pháp và mang án tích. Như vậy, án tích là hình thức của trách nhiệm hình sự. Hình phạt là một trong những hình thức của TNHS. Nhận định SAI.
Giải thích: Trách nhiệm hình sự chấm dứt khi không còn những tác động pháp lý về hình sự bất lợi đối với người phạm tội. Vì vậy, ngoài chấp hành xong hình phạt thì trách nhiệm hình sự còn chấm dứt khi được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, có đặc xá hoặc đại xá, hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, hết thời hiệu thi hành bản án,. Trách nhiệm hình sự chấm dứt khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt. Nhận định SAI.
Giải thích: Vì đối tượng tác động của mục đích phòng ngừa riêng của của hình phạt là chính “người phạm tội” chứ không phải “người khác”. Còn ngăn ngừa người khác phạm tội là mục đích phòng ngừa chung của hình phạt. Ngăn ngừa người khác phạm tội là mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt. Nhận định ĐÚNG.
Giải thích: Trách nhiệm hình sự là sự phản ứng của nhà nước đối với tội phạm bằng cách áp dụng các tác động pháp lý hình sự bất lợi đối với người phạm tội. Những tác động pháp lý đó là các hình thức trách nhiệm hình sự bao gồm kết án về một tội phạm, phải chịu hình phạt, phải thực hiện một số biện pháp tư pháp và mang án tích. Như vậy, hình phạt là hình thức của trách nhiệm hình sự. Người phạm một tội có thể phải chịu nhiều hình thức của TNHS.
Nhận định ĐÚNG. Giải thích: Ví dụ một người phạm tội trộm cắp tài sản (Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015) thì ngoài việc bị áp dụng hình phạt thì còn có thể bị áp dụng các biện pháp tư pháp như buộc phải trả lại tài sản (Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015),… 6. TNHS chỉ áp dụng đối với người phạm tội. Nhận định SAI.
Giải thích: Vì trách nhiệm hình sự còn được áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 2 Bộ luật Hình sự 2015). Người phạm tội làm tiền giả theo quy định tại Khoản 1 Điều 207 BLHS thì có thể bị áp dụng hình phạt cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Nhận định SAI. Cơ sở pháp lý: Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015.
Giải thích: Người phạm tội làm tiền giả thì bị áp dụng hình phạt tù và có thể có thêm hai hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000 và tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (được quy định tại khoản 5). Chứ không có nói đến hình phạt cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Mọi trường hợp áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đều phải khấu trừ thu nhập của người bị kết án. Nhận định SAI Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015.
Giải thích: Không phải mọi trường hợp áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đều phải khấu trừ thu nhập của người bị kết án. Vì theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 thì không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự. Thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo Điều 41 BLHS chỉ được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nhận định SAI.
Cơ sở pháp lý: Điều 41 Bộ luật Hình sự 2015. Giải thích: Ngoài việc tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người kết án được hưởng án treo thì thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định còn tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù nếu hình phạt chính là tù có thời hạn. Có thể áp dụng hình phạt tước một số quyền công dân cho người thực hiện tội phạm khủng bố theo quy định tại Điều 299 BLHS. Nhận định ĐÚNG Cơ sở pháp lý: khoản 5 Điều 299 Bộ luật Hình sự 2015.
Người phạm tội còn có thể bị tước một số quyền công dân, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hình phạt quản chế được tuyên kèm với tất cả các loại hình phạt chính. Nhận định SAI Cơ sở pháp lý: Điều 43 Bộ luật Hình sự 2015. Giải thích: Theo Điều 43 Bộ luật Hình sự 2015 thì hình phạt quản chế được áp dụng kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù đồng nghĩa với việc áp dụng sau khi hình phạt chính được áp dụng chứ không tuyên kèm với với tất cả các loại hình phạt chính.
Biện pháp “tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm” (Điều 47 BLHS) chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội. Nhận định SAI. Cơ sở pháp lý: điểm c khoản 1 và khoản 3 điều 47 Bộ luật Hình sự 2015. Giải thích: Biện pháp “tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm” không chỉ áp dụng đối với người phạm tội mà còn được áp đụng đối với vật thuộc loại cấm lưu hành như ma túy, vũ khí quân dụng…cũng sẽ bị tịch thu bất kể chúng thuộc sở hữu của ai.
Ngoài ra, tại khoản 3 còn quy định vật, tiền tài sản của chủ sở hữu hợp pháp có thể bị tịch thu sung quỹ Nhà nước nếu họ có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng tài sản của mình để thực hiện tội phạm. Biện pháp tư pháp có thể được áp dụng thay thế cho hình phạt. Nhận định ĐÚNG. Giải thích: Biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt.
Tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của BLHS chỉ được áp dụng khi chính người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Nhận định SAI. Cơ sở pháp lý: Mục 1 Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP. Giải thích: tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” cũng được áp dụng nếu thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Mục 1 NQ 01/2006.
Bị cáo là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi khi phạm tội và cha, mẹ của họ đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra;…” 15. Không áp dụng tình tiết “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” (điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS) trong trường hợp phạm tội do lỗi vô ý. Nhận định ĐÚNG. Cơ sở pháp lý: Mục 2 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP Giải thích: Tình tiết “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” chỉ được áp dụng đối với những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý; không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của bị cáo có nhận biết được hay không nhận biết được.
Phạm tội nhiều lần là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Nhận định SAI. Cơ sở pháp lý: Mục 5 Nghị quyết 01/2006/NQ- HĐTP. Giải thích: Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: “a.
Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích; b. Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.” => Mức độ tăng nặng TNHS của tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” phụ thuộc vào mức độ chuyên nghiệp, số lần phạm tội, thời gian hoạt động phạm tội, mức độ thu nhập do phạm tội mà có. Ví dụ: A là một người không nghề nghiệp, chuyên sống bằng nguồn thu thập từ việc phạm tội. Trong một thời gian, A liên tiếp thực hiện năm vụ trộm cắp tài sản (tài sản chiếm đoạt được trong mỗi vụ có giá trị từ năm trăm ngàn đồng trở lên).
Trong trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” 17. Một trong những điều kiện để áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 BLHS là phải cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên về cùng một tội phạm. Nhận định SAI. Giải thích: Khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực cho đến nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn thay thế Nghị quyết số 01/2006 trong đó có quy định thế nào là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
Cụ thể tại tiểu mục 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP quy định: Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích; Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.