phần mở đầu, kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương và 8 tiết 11 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 QUAN NIỆM VỀ DUNG HỢP TAM GIÁO VÀ ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƢ TƢỞNG VIỆT NAM 1. QUAN NIỆM VỀ DUNG HỢP TAM GIÁO VÀ ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƢ TƢỞNG VIỆT NAM 1. Quan niệm về dung hợp Tam giáo Xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của thực tiễn lịch sử - xã hội qua các thời kỳ lịch sử, trên cơ sở liên kết, hòa đồng, thống nhất ba thành tố cơ bản của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) cùng với sự ảnh hưởng của văn hóa bản địa, đã hình thành nên những hình thức dung hợp Tam giáo chủ yếu trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, với hình thức (hay mô hình), tính chất, khuynh hướng dung hợp khác nhau: 1) Hình thức dung hợp Tam giáo hòa đồng, trong đó Nho, Phật, Đạo cạnh tranh, hòa hợp, đồng hành, sơ khai, thời kỳ Bắc thuộc; 2) Hình thức dung hợp Tam giáo đồng nguyên, lấy Phật giáo làm trung tâm, thời Lý - Trần; 3) Hình thức dung hợp Tam giáo đồng nguyên, lấy Nho giáo làm hạt nhân, thời Lê - Nguyễn; 4) Hình thức dung hợp Tam giáo đồng quy, các yếu tố tư tưởng của Nho, Phật, Đạo thống nhất về một nguồn gốc, kết hợp với yếu tố của tư tưởng, tôn giáo khác, pha trộn với văn hóa, tín ngưỡng bản địa, lấy Phật giáo làm nòng cốt, cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Để tìm hiểu rõ nội dung, đặc điểm của những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, trước hết, luận án tập trung làm rõ vấn đề lý luận chung về dung hợp Tam giáo, như là cơ sở lý thuyết cho toàn luận án.
Trong các công trình nghiên cứu về dung hợp Tam giáo, các học giả châu Á thường sử dụng thuật ngữ “mô hình” để nói về những hình thức chung của ba hệ thống tư tưởng triết học Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo liên kết và xâm nhập vào nhau thành một tổ hợp tư tưởng triết học, văn hóa, tôn giáo. Tuy nhiên các học giả châu Á lại sử dụng các thuật ngữ rất khác nhau để nói về mô hình này. Tài liệu của Trung Quốc thường sử dụng thuật ngữ: “Tam giáo hợp nhất”; Nhật Bản là “Tam giáo tập hợp”; Triều Tiên gọi là: “Tam giáo dung hợp”. Ngay cả khi các công trình của họ được chuyển dịch sang tiếng Anh để công bố trên các tạp chí cũng diễn đạt theo những thuật ngữ khác nhau như: model, pattern, example, exemplar, template, standard, prototype, archetype, paradigm; đúng là các thuật ngữ này đồng nghĩa với nhau, song thường đặt trong những ngữ cảnh khác nhau, xin chia sẻ quan điểm của Pelix M.
Keesing, khi ông chọn thuật ngữ: “paradigm” để chỉ mô hình Tam giáo dung hợp ở Đông Á với lý do: Mô hình (paradigm) của Tam giáo chưa đạt đến trình độ loại hình hóa (typology) vì nó có thể là phổ biến ở các quốc gia Đông Á, nhưng chỉ là hình thức đặc thù riêng có của khu vực Đông Á. 12 Các nhà triết học xem thuật ngữ “hình thái (model)” là phù hợp với mô hình Tam giáo trong lịch sử Trung Quốc, còn người Nhật Bản lại chọn thuật ngữ “cấu hình” (configue) là thích hợp với trường hợp kết cấu Tam giáo trong lịch sử triết học, văn hóa, tôn giáo Nhật Bản, song không phù hợp với trường hợp Tam giáo dung hợp của các quốc gia còn lại. Người Triều Tiên lại gọi hiện tượng này bằng cụm từ “tổ hợp”. Mô hình (paradigm) ngoài nghĩa chính là mô hình, nó còn có nghĩa là một dạng thức hoặc một kiểu mẫu mang tính tạm thời của các hình thức cụ thể trong một giai đoạn lịch sử.
Nó mềm mại, không cứng và cố định như thuật ngữ “model”, cũng không quá linh hoạt, thay đổi nhanh như thuật ngữ cấu hình. Mô hình (paradigm) còn là thuật ngữ chỉ hình thức, hình mẫu hòa hợp, sự hòa đồng, sự liên tục tiếp biến của Tam giáo trên phương diện tư tưởng, văn hóa và tôn giáo nữa. Mô hình (paradigm) là thuật ngữ không chỉ bao gồm sự tổng hợp của ba thành tố cơ bản: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, mà còn bao gồm cả nhân tố văn hóa truyền thống bản địa của các dân tộc Đông Á (ví dụ: mô hình Tam giáo hợp nhất của Trung Quốc, Tam giáo tập hợp của Nhật Bản, Tam giáo dung hợp của Triều Tiên, Tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam, đều có thêm nhân tố văn hóa bản địa của dân tộc làm nên cái đặc thù, cái bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình) (Pelix M. Cũng cần phân biệt thuật ngữ “mô hình” với “cấu trúc” (structure).
Theo định nghĩa, cấu trúc là một hệ thống được bố trí, cấu tạo, thiết lập, sắp xếp các nhân tố, thành phần trong một trật tự nhất định với các chức năng và mối quan hệ lẫn nhau trong hệ thống đó. Chẳng hạn cấu trúc của một tư tưởng trước hết phải tuân thủ cấu trúc ngôn ngữ diễn đạt tư tưởng đó và cấu trúc logic của tư duy. Còn mô hình cũng là một tập hợp của các nhân tố, thành phần, song chưa có cấu trúc ổn định, chưa trở thành một hệ thống chắc chắn, cố định và các thành phần, nhân tố, thường xuyên thay đổi và vì thế chức năng, vai trò của chúng cũng luôn biến đổi tùy thuộc vào các tác động từ bên ngoài một tập hợp. Như vậy, trong luận án này, tác giả sử dụng thuật ngữ mô hình (paradigm) để chỉ cụm từ mô hình dung hợp Tam giáo ở Đông Á, vì đây là thuật ngữ phản ánh đúng hiện tượng chung ở các quốc gia Đông Á trong đó có Việt Nam, nó nằm giữa thuật ngữ “hình thái” (model) và thuật ngữ “cấu hình” (configue) nếu nhìn từ cấp độ loại hình học.
Mặt khác đây cũng là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trên các văn bản quốc tế. Theo Yoshinori, thuật ngữ dung hợp được định nghĩa là: sự hợp nhất, dung hợp, hài hòa hoặc kết hợp, trộn lẫn của các nền văn hóa, hoặc trường phái tư tưởng và các tôn giáo khác nhau (Yoshinori. Do vậy, thuật ngữ “dung hợp” được sử dụng trong cụm từ dung hợp Tam giáo cũng được thể hiện bằng nhiều từ ngữ có ý nghĩa khác nhau như: dung hợp (fusion), trộn lẫn (mixture), hài hòa (harmony); tổng hợp (synthetic) song theo Pelix M. Keesing, thuật ngữ dung hợp (syncrective) là phù hợp hơn cả, vì thứ nhất, nó bao quát ý nghĩa của tất cả các thuật ngữ trên, thứ hai, nó chỉ ra 13 nguồn gốc, căn nguyên của sự hợp nhất Tam giáo.
Thứ ba, thuật ngữ dung hợp phản ánh đúng tất cả các trường hợp dung hợp Tam giáo ở các quốc gia Đông Á. Có thể hiểu dung hợp là thuật ngữ rộng hơn, bao quát tất cả các tổ hợp Tam giáo trong lịch sử triết học, văn hóa, tôn giáo ở Đông Á, trong luận án tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ này. Dung hợp tư tưởng, văn hóa là một hiện tượng phổ biến trong đời sống tinh thần của các dân tộc trên thế giới, do vậy, thuật ngữ “dung hợp” (syncretic) không chỉ trở thành khái niệm mà còn là lý thuyết nghiên cứu (syncretism) quan trọng trong các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, tôn giáo. Theo từ điển diễn giải triết học từ trường đại học Stanford, thuật ngữ dung hợp được định nghĩa là: sự hợp nhất, hài hòa hoặc kết hợp, trộn lẫn của các nền văn hóa, hoặc trường phái tư tưởng và các tôn giáo khác nhau.
Tuy nhiên, thuật ngữ “dung hợp” được sử dụng trong cụm từ dung hợp Tam giáo cũng được thể hiện bằng nhiều từ ngữ có ý nghĩa khác nhau như: hỗn hợp (fusion), trộn lẫn (mixture), hài hòa (harmony); tổng hợp (synthetic). Song theo nghiên cứu sinh thuật ngữ dung hợp (syncrectic) là phù hợp hơn cả; vì thứ nhất, nó bao quát ý nghĩa của tất cả các thuật ngữ trên; Thứ hai, nó chỉ ra nguồn gốc, căn nguyên của sự dung hợp tư tưởng, văn hóa và tôn giáo; Thứ ba, thuật ngữ dung hợp phản ánh bao quát tất cả các hình thức dung hợp không chỉ là tổ hợp Tam giáo ở các quốc gia Đông Á, mà còn là khái niệm, lý thuyết rộng hơn, bao quát tất cả các hình thức dung hợp trong lịch sử triết học, văn hóa, tôn giáo ở các vùng văn hóa khác. Trong Từ điển bách khoa toàn thư về tôn giáo và văn hóa, David Levinson và các học giả đã định nghĩa: “Dung hợp là một hiện tượng phổ biến trong văn hóa, tư tưởng, tôn giáo ở nhiều vùng văn hóa và các tộc người, nó phản ánh một ý nghĩa phát triển đặc biệt khi hợp nhất các tổ chức, hoặc các yếu tố của chúng và được gán cho những giá trị khác nhau, được hình thành như những cách để có cùng một mục tiêu, với quy định rằng một trong số chúng dẫn đến mục tiêu hiệu quả hơn các mục tiêu khác. Loại dung hợp này phục vụ một nhu cầu trong triết lý, văn hóa, tôn giáo” (David Levinson, 1996, trang 271).
Các học giả phương Tây thường cho rằng: “Chủ nghĩa dung hợp thường xuất hiện nằm trong các nền văn hóa dân gian của nông dân và những người theo chủ nghĩa mục vụ, ở các vùng biên giới hoặc vùng ven biên giới, và trong số những người bị thất sủng trong giai cấp của mình. Đặc biệt là trong tư tưởng, văn hóa ở các quốc gia Phương Đông” (David Levinson, 1996, trang 265). Dung hợp còn là một hiện tượng rất đa dạng trong các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa nên được xác định thành các dạng thức như: Kết hợp các yếu tố cụ thể của nhiều hệ thống tư tưởng hoặc nền văn hóa chẳng hạn như: “Người Hy lạp - La Mã đã mang nền văn hóa của mình vào các nền văn hóa truyền thống của các dân tộc khác, dẫn đến một sự tiếp biến và pha trộn, tạo nên sự dung hợp cho cả hai nền văn hóa” (William 14 P. “Ví dụ điển hình nhất về điều này có lẽ là sự di cư của người Aryan vào tiểu lục địa Ấn Độ và sự kết hợp giữa hai nền văn minh bán du mục và thuần nông nghiệp của tộc người Dravidian.” (Alburey C astell & Donald M.
Các học giả châu Âu, Bắc Mỹ xem chủ nghĩa dung hợp là một yếu tố quan trọng để nghiên cứu tư tưởng, văn hóa và tôn giáo toàn cầu, chúng bao gồm nhiều yếu tố biểu thị sự hợp nhất, trao đổi, tổng hợp và kết hợp các tư tưởng, văn hóa tín ngưỡng và thực hành đa dạng.