Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Trí (chuyên ngành Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017) được thực hiện dưới sự hướng dẫn của NCS. Lê Duy Hùng, tập trung vào đề tài: "Nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi sống tại Thành phố Hồ Chí Minh".

Lý do chọn đề tài xuất phát từ sức ép tâm lý gia tăng trong xã hội công nghiệp hóa - hiện đại hóa, khiến con người dễ gặp phải căng thẳng và nảy sinh nhu cầu được chia sẻ, tham vấn tâm lý (TVTL). Đối với trẻ em, việc giải tỏa khó khăn tâm lý vốn dựa vào gia đình; tuy nhiên, trẻ mồ côi (TMC) là nhóm đối tượng chịu thiệt thòi lớn khi thiếu vắng môi trường gia đình trọn vẹn, phải mang những "vết sẹo" tâm lý và đối diện với rào cản lớn trong việc bộc lộ cảm xúc. Thực tế hỗ trợ tại các trung tâm bảo trợ chủ yếu tập trung vào điều kiện vật chất, trong khi sự hỗ trợ về mặt tinh thần và tham vấn tâm lý chuyên môn vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu thực tiễn.

Để khẳng định tính cấp thiết, tác giả trích dẫn các dữ liệu thực tiễn và nghiên cứu trước:

  • Theo số liệu từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (giai đoạn 2004–2012), cả nước ghi nhận 176.000 trẻ mồ côi và trẻ có hoàn cảnh khó khăn, nhưng chỉ có 1,34% trong số đó được nhận nuôi.
  • Tại Thành phố Hồ Chí Minh (giai đoạn 2010–2013), số đối tượng được xét trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng có 2.975 trẻ mồ côi; cùng với đó là 3.961 gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi.
  • Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương Trang tại Làng Hi Vọng (Đà Nẵng) chỉ ra rằng có tới 74,1% trẻ mồ côi có mong muốn được tham vấn tâm lý bởi những người lớn hơn.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là tìm hiểu thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số phương pháp nhằm đáp ứng nhu cầu này cho các em.

Khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu lý luận: Làm rõ một số vấn đề lý luận về nhu cầu, tham vấn tâm lý, trẻ mồ côi, nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này.
  2. Nghiên cứu thực trạng: Khảo sát thực trạng biểu hiện, mức độ và những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi trong các lĩnh vực: học tập, quan hệ ứng xử (với bạn bè; anh chị em, người chăm sóc trong trung tâm; cộng đồng), nhận thức một số vấn đề liên quan đến tuổi vị thành niên và hướng nghiệp.
  3. Đề xuất giải pháp: Đề xuất một số phương pháp tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý tạo điều kiện thỏa mãn nhu cầu cho trẻ mồ côi.

Đối tượng nghiên cứu là nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khách thể nghiên cứu được giới hạn là trẻ mồ côi trong độ tuổi từ 11 đến 16 tuổi (lứa tuổi vị thành niên). Địa bàn khảo sát thực tiễn là các cơ sở bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố, cụ thể tại Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Gò Vấp và Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Linh Xuân.

Giả thuyết khoa học của đề tài cho rằng nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi sống tại Thành phố Hồ Chí Minh ở mức độ khá cao; đồng thời có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến nhu cầu này, trong đó nhóm yếu tố chủ quan giữ mức độ ảnh hưởng lớn hơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các trường phái tâm lý học và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan:

Khái niệm nhu cầu được tác giả tiếp cận từ định nghĩa trong giáo trình Tâm lý học đại cương của Nguyễn Quang Uẩn: "Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển", đồng thời kế thừa các quan điểm phân loại nhu cầu của Abraham Maslow (thang 5 bậc: sinh lý, an toàn, phụ thuộc/yêu thương, tự trọng, phát huy bản ngã) và David McClelland (3 nhu cầu: quyền lực, liên kết, thành đạt).

Khái niệm tham vấn tâm lý được tổng hợp từ định nghĩa của Hiệp hội Tham vấn Hoa Kỳ (ACA, 1997), Carl Rogers (1952), D. Blocher (1966), Hunchinson Haney & Jacqueline L. (1999), C. G. Wrenn (1953), N. E. Fullmer (1965), Richard Nelson-Jones (1997), Merle M. Ohlsen. Tại Việt Nam, tác giả tham chiếu nghiên cứu của Trần Thị Minh Đức, Trần Quốc Thành, Trần Thị Giồng và Phạm Văn Tư. Tác giả phân định rõ tham vấn tâm lý với hoạt động tư vấn (Consultation - mang tính hỏi đáp, cung cấp lời khuyên ngắn hạn) và trị liệu tâm lý (Psychotherapy - can thiệp bệnh lý tâm thần chuyên sâu), xác định bản chất của tham vấn là tiến trình trợ giúp nhằm nâng cao sức mạnh nội tại để thân chủ tự giải quyết vấn đề.

Khái niệm trẻ mồ côi được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý: Điều 20 và Điều 21 Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em; Điều 3, Điều 40 và Điều 51 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Điều 6 Nghị định số 07/2000/NĐ-CP; Điều 4 và Điều 9 văn bản Chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Điều 78 và Điều 88 Bộ luật Dân sự. Nhóm khách thể được xác định là trẻ em dưới 16 tuổi mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích ruột thịt nương tựa, hoặc mồ côi cha/mẹ mà người còn lại mất tích hoặc không đủ năng lực nuôi dưỡng.

Từ các cơ sở trên, tác giả đưa ra định nghĩa: "Nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi là những đòi hỏi được trợ giúp tâm lý của trẻ mồ côi khi gặp phải khó khăn tâm lý trong cuộc sống. Trong quá trình tương tác với trẻ mồ côi, nhà tham vấn giúp các em khai thác những tiềm năng của bản thân để có thể tự ứng phó với những khó khăn tâm lý một cách tích cực, hiệu quả, góp phần cân bằng, ổn định và phát triển nhân cách cho các em".

Về phương pháp luận, nghiên cứu tuân thủ 4 nguyên tắc phương pháp luận của tâm lý học:

  • Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng.
  • Nguyên tắc hoạt động.
  • Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan.
  • Nguyên tắc phát triển.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài triển khai hai giai đoạn với các phương pháp cụ thể:

  • Giai đoạn 1 (Nghiên cứu lý luận): Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu lý luận, văn bản pháp luật, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến nhu cầu, tham vấn tâm lý và trẻ mồ côi.
  • Giai đoạn 2 (Nghiên cứu thực tiễn): Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phiếu trưng cầu ý kiến), phương pháp phỏng vấn sâu với các trường hợp điển hình và phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học (tính điểm trung bình - ĐTB, độ lệch chuẩn - ĐLC qua phần mềm thống kê).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu và xây dựng khung lý luận của đề tài:

  • Tổng quan nghiên cứu ngoài nước: Tác giả chỉ ra 3 xu hướng chính gồm: (1) Nghiên cứu đánh giá thực trạng nhu cầu tham vấn của học sinh, sinh viên và trẻ khuyết tật (dẫn chứng nghiên cứu của Egbochuku, Nyutu & Gysbers, Morgan & cộng sự, Güneri, Peterson, Reis & Colbert); (2) Phát triển các thang đo nhu cầu tham vấn (tiêu biểu là thang đo The Students Counseling Needs Scale của Nyutu năm 2007); (3) Xây dựng mô hình tham vấn học đường (mô hình của Trường Illinois, Đại học Wisconsin, Eschenauer & Chen-Hayes, mạng lưới RASED tại Pháp, mô hình tại Singapore và Trung Quốc).
  • Tổng quan nghiên cứu trong nước: Phân tích hai hướng nghiên cứu tiêu biểu gồm đánh giá thực trạng nhu cầu tại các cơ sở giáo dục (nhóm nghiên cứu Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2005; Trần Thị Giồng và Đỗ Văn Bình năm 2003) và thử nghiệm mô hình hỗ trợ học đường (Nguyễn Thị Mùi, Phạm Mạnh Hà, Trần Anh Châu năm 2009; Trung tâm Hỗ trợ và Tư vấn Tâm lý CACP thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội).
  • Phân tích đặc điểm tâm lý và khó khăn tâm lý của trẻ mồ côi: Tác giả làm rõ các nét tâm lý đặc thù như đời sống tình cảm khép kín hoặc biểu hiện ương bướng, khao khát tình yêu thương của cha mẹ, dễ đồng cảm với người cùng cảnh ngộ, dễ rung động trước người khác giới (nguy cơ yêu sớm), thường có cảm xúc tiêu cực, mặc cảm tự ti, tính ỷ lại vào sự bảo trợ.
Lĩnh vực khó khăn tâm lý Biểu hiện khó khăn cụ thể ở trẻ mồ côi
Học tập Xác định mục đích, động cơ; phương pháp học tập; tập trung chú ý, ghi nhớ; thích ứng phương pháp giảng dạy; làm việc nhóm; vận dụng lý thuyết làm bài tập; tìm tài liệu tham khảo; tự tin trao đổi với giáo viên và bạn bè.
Quan hệ ứng xử - Bạn bè: Cởi mở, tạo thiện cảm, giữ chừng mực và làm chủ cảm xúc với bạn khác giới.
- Nội bộ trung tâm: Hòa nhập tập thể, thấu hiểu người cùng cảnh ngộ, chia sẻ với người chăm sóc.
- Thầy cô giáo: Thể hiện sự tôn trọng, chủ động trao đổi bài học.
- Cộng đồng: Vượt qua mặc cảm, đối diện sự kỳ thị xã hội.
Bản thân và lứa tuổi vị thành niên Tự kỳ thị, tự hạ thấp giá trị bản thân, mặc cảm bị bỏ rơi; bỡ ngỡ trước biến đổi cơ thể tuổi dậy thì; thiếu hiểu biết về giới tính và sức khỏe sinh sản; khủng hoảng căn tính lứa tuổi.
Định hướng nghề nghiệp Tự xác định năng lực và sở thích khi thiếu định hướng từ gia đình; tìm kiếm thông tin thị trường lao động; giải quyết mâu thuẫn giữa nguyện vọng cá nhân và khả năng thực tế.

Tác giả phân loại nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi theo 3 mức độ phát triển:

  1. Ý hướng tham vấn tâm lý (Mức độ thấp - Nhu cầu tiềm năng): Trẻ nhận biết bản thân gặp khó khăn và cần hỗ trợ nhưng chưa định hình rõ ràng việc tìm kiếm sự trợ giúp từ nhà tham vấn.
  2. Ý muốn tham vấn tâm lý (Mức độ khá cao - Nhu cầu tiềm năng): Trẻ nhận thức tương đối đầy đủ vai trò của tham vấn tâm lý, có thái độ tích cực và mong muốn được nhà chuyên môn hỗ trợ giải quyết khó khăn.
  3. Ý định tham vấn tâm lý (Mức độ cao - Nhu cầu hiện thực): Trẻ ý thức rõ ràng về đối tượng, hình thức, phương thức và điều kiện thỏa mãn nhu cầu, chuyển hóa mong muốn thành hành động cụ thể để nhận hỗ trợ.
Nhóm yếu tố ảnh hưởng Yếu tố cụ thể được phân tích
Yếu tố chủ quan - Nhận thức của trẻ mồ côi về bản chất và vai trò của hoạt động tham vấn tâm lý.
- Niềm tin của trẻ vào hiệu quả hỗ trợ của nhà tham vấn tâm lý.
- Mức độ tự kỳ thị, tự ti và rào cản phòng vệ tâm lý của bản thân trẻ.
Yếu tố khách quan - Sự kỳ thị, thái độ phân biệt đối xử của một bộ phận cộng đồng đối với trẻ sống tại trung tâm bảo trợ.
- Rào cản văn hóa truyền thống phương Đông ("tốt khoe xấu che", định kiến người có vấn đề nặng mới đi tham vấn).
- Chất lượng dịch vụ tham vấn (tính chuyên nghiệp của quy trình, đạo đức nghề nghiệp, không gian phòng tham vấn).

Chương 2: Kết quả nghiên cứu thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi sống tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung Chương 2 tập trung vào việc tổ chức đo đạc thực nghiệm và phân tích dữ liệu điều tra từ các bảng hỏi và phỏng vấn sâu:

  • Quy trình tổ chức nghiên cứu: Thiết kế bộ công cụ điều tra gồm phiếu trưng cầu ý kiến và phiếu phỏng vấn sâu; xác định độ tin cậy, độ giá trị của các mệnh đề; xây dựng thang đo và tiêu chí đánh giá mức độ khó khăn tâm lý và mức độ nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi.
  • Hệ thống dữ liệu đo lường theo danh mục bảng của khóa luận bao gồm:
    • Khảo sát mẫu khách thể trẻ mồ côi tại các trung tâm bảo trợ theo khối lớp và giới tính.
    • Đo lường mức độ khó khăn tâm lý và tần suất sử dụng các cách giải quyết khó khăn của trẻ (tự giải quyết, tìm kiếm người thân cận, nhờ người chăm sóc hoặc nhà chuyên môn).
    • Đánh giá tương quan giữa mức độ khó khăn tâm lý và mức độ nhu cầu tham vấn tâm lý trong từng lĩnh vực: học tập, quan hệ với bạn bè, quan hệ với anh chị em và người chăm sóc trong trung tâm, quan hệ với cộng đồng, nhận thức tuổi vị thành niên và hướng nghiệp.
    • Phân tích nhu cầu theo các biến nhân khẩu học: so sánh mức độ nhu cầu theo tiêu chí khối lớp (sự khác biệt giữa các khối lớp THCS) và theo tiêu chí giới tính (nam và nữ).
    • Khảo sát mức độ cần thiết của sự trợ giúp từ nhà tham vấn tâm lý và nhu cầu của trẻ đối với các hình thức tham vấn (tham vấn trực tiếp cá nhân, tham vấn nhóm, sinh hoạt tập thể; tham vấn gián tiếp qua điện thoại, mạng xã hội, internet).
    • Phân tích nguyên nhân: Hệ thống hóa các lý do trẻ mồ côi có nhu cầu tham vấn tâm lý và lý do trẻ chưa có nhu cầu tham vấn (xét theo khối lớp và giới tính).
    • Tổng hợp mức độ tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan đến nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả và đóng góp

Về mặt kết quả nghiên cứu, khóa luận đã đạt được các nội dung sau:

  • Khái quát hóa bức tranh thực trạng: Trẻ mồ côi lứa tuổi vị thành niên (11–16 tuổi) sống tại các trung tâm bảo trợ ở Thành phố Hồ Chí Minh đối diện với nhiều khó khăn tâm lý đan xen. Khó khăn xuất hiện rõ rệt nhất trong quan hệ giao tiếp xã hội (đặc biệt là quan hệ với bạn khác giới và vượt qua mặc cảm bị bỏ rơi trước cộng đồng), nhận thức về sự thay đổi cơ thể lứa tuổi dậy thì và lựa chọn hướng đi nghề nghiệp khi thiếu vắng sự bảo bọc gia đình.
  • Xác định mức độ nhu cầu: Phù hợp với giả thuyết ban đầu, nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi tại các trung tâm đạt mức độ khá cao, tuy nhiên phần lớn tập trung ở mức độ "ý muốn" (nhu cầu tiềm năng) và gặp khó khăn trong việc chuyển hóa thành "ý định" (nhu cầu hiện thực) do tâm lý e ngại, thiếu niềm tin hoặc thiếu điều kiện tiếp cận dịch vụ chuyên môn.
  • Nhu cầu về hình thức và nhà tham vấn: Trẻ mồ côi ưu tiên hình thức tham vấn trực tiếp khi đã thiết lập được sự tin cậy, đòi hỏi nhà tham vấn phải có năng lực chuyên môn, phẩm chất thấu cảm, tuyệt đối bảo mật thông tin và không phân biệt đối xử.

Về mặt đóng góp:

  • Đóng góp lý luận: Làm sáng tỏ và hoàn thiện các khái niệm về nhu cầu tham vấn tâm lý gắn liền với nhóm khách thể đặc thù là trẻ mồ côi; xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ báo đánh giá nhu cầu tham vấn phù hợp với lứa tuổi vị thành niên tại Việt Nam.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về thực trạng tâm lý của trẻ mồ côi tại Thành phố Hồ Chí Minh; tạo cơ sở khoa học để các nhà quản lý, cán bộ trung tâm bảo trợ xây dựng các chương trình chăm sóc sức khỏe tinh thần và đề xuất thành lập các phòng tham vấn tâm lý chuyên trách tại các cơ sở nuôi dưỡng trẻ mồ côi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số giới hạn nghiên cứu:

  • Giới hạn về khách thể: Đề tài chỉ tập trung khảo sát trẻ mồ côi trong độ tuổi từ 11 đến 16 tuổi (học sinh cấp trung học cơ sở), chưa mở rộng khảo sát các nhóm lứa tuổi nhỏ hơn (tiểu học) hoặc nhóm trẻ mồ côi đã đến tuổi trưởng thành (chuẩn bị rời khỏi cơ sở bảo trợ theo quy định pháp luật).
  • Giới hạn về không gian: Dữ liệu thực tiễn được thu thập tại một số trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em cụ thể trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (Trung tâm Gò Vấp và Trung tâm Linh Xuân), chưa bao quát nhóm trẻ mồ côi đang sinh sống phân tán tại các mái ấm tư nhân, nhà tình thương hoặc nhóm trẻ mồ côi được thân nhân nuôi dưỡng ngoài cộng đồng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng quy mô khách thể trên nhiều địa bàn khác nhau; đồng thời triển khai thử nghiệm thực tế các mô hình phòng tham vấn tâm lý và đánh giá định lượng hiệu quả can thiệp của các kỹ thuật tham vấn đối với trẻ mồ côi.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Tâm lý học và Công tác xã hội: Cung cấp khung lý luận bài bản về tham vấn tâm lý cho các đối tượng yếu thế; phương pháp phân tích tâm lý trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; tài liệu tham khảo cho việc thiết kế bảng hỏi và xử lý dữ liệu thống kê trong nghiên cứu tâm lý học.
  • Đối với cán bộ quản lý và nhân viên tại các trung tâm bảo trợ trẻ em: Tài liệu giúp nhận diện rõ nét những khó khăn tâm lý tiềm ẩn của trẻ mồ côi lứa tuổi vị thành niên, từ đó điều chỉnh phương pháp tiếp cận, giao tiếp và chăm sóc giáo dục phù hợp, tránh tập trung đơn thuần vào hỗ trợ vật chất mà xem nhẹ đời sống tinh thần.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách xã hội: Là căn cứ thực tiễn để đánh giá sự cần thiết của việc thể chế hóa vị trí chuyên viên tham vấn tâm lý trong hệ thống các trung tâm nuôi dưỡng và bảo trợ xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng các căn cứ pháp lý nào để định nghĩa và xác định khách thể trẻ mồ côi?
Tác giả căn cứ vào Điều 20 và 21 Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em; các Điều 3, 40 và 51 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Điều 6 Nghị định số 07/2000/NĐ-CP; Điều 4 và 9 văn bản Chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Điều 78 và 88 Bộ luật Dân sự để xác định trẻ mồ côi là trẻ dưới 16 tuổi mất cha mẹ, bị bỏ rơi hoặc không còn người thân nương tựa.

Khóa luận phân loại nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi thành những mức độ nào?
Nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi được chia thành 3 mức độ kế tiếp: Ý hướng tham vấn tâm lý (mức độ thấp - nhu cầu tiềm năng khi mới có nhận thức ban đầu), Ý muốn tham vấn tâm lý (mức độ khá cao - nhu cầu tiềm năng khi có thái độ tích cực nhưng chưa hành động), và Ý định tham vấn tâm lý (mức độ cao - nhu cầu hiện thực khi xác định rõ hành động để thỏa mãn nhu cầu).

Những lĩnh vực khó khăn tâm lý chính được khảo sát trong nghiên cứu gồm những gì?
Nghiên cứu tập trung đo lường khó khăn tâm lý trên 5 lĩnh vực: học tập; quan hệ ứng xử (gồm quan hệ bạn bè/bạn khác giới, quan hệ với anh chị em và người chăm sóc tại trung tâm, quan hệ với thầy cô giáo và cộng đồng); khó khăn xuất phát từ bản thân; nhận thức một số vấn đề liên quan đến lứa tuổi vị thành niên (dậy thì, giới tính, sức khỏe sinh sản); và định hướng nghề nghiệp.

Yếu tố chủ quan nào cản trở lớn nhất đến việc tìm kiếm sự trợ giúp tham vấn của trẻ mồ côi?
Khóa luận chỉ ra rằng bên cạnh nhận thức chưa đầy đủ về dịch vụ tham vấn, tâm lý tự kỳ thị bản thân, mặc cảm về hoàn cảnh bị bỏ rơi và sự thiếu niềm tin vào người khác là những rào cản nội tại lớn nhất khiến trẻ mồ côi e ngại bộc lộ khó khăn với nhà chuyên môn.

Khảo sát thực tiễn của đề tài được triển khai tại những địa bàn cụ thể nào?
Nghiên cứu thực tiễn được tác giả tiến hành khảo sát trên nhóm trẻ mồ côi lứa tuổi từ 11 đến 16 tuổi sinh sống tại hai cơ sở bảo trợ xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh là Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Gò Vấp và Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Linh Xuân.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Trí là công trình nghiên cứu chuyên ngành Tâm lý học có hệ thống lý luận vững chắc và phương pháp nghiên cứu rõ ràng về nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ mồ côi lứa tuổi vị thành niên. Bằng việc kết hợp giữa phân tích lý luận, điều tra thực trạng định lượng và phỏng vấn sâu, tác giả đã làm sáng tỏ các đặc điểm tâm lý, các khó khăn thường gặp và các mức độ nhu cầu hỗ trợ tâm lý của trẻ tại các trung tâm bảo trợ ở Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt học thuật trong lĩnh vực tâm lý học lâm sàng và học đường mà còn là cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ công tác xây dựng phòng tham vấn và chăm sóc sức khỏe tinh thần cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.