MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Việc xây dựng khẩu phần ăn cho gia súc nói chung cũng như cho bò thịt nói riêng ở nước ta chủ yếu dựa theo các hệ thống tiêu chuẩn của nước ngoài như: ARC (1980), AFRC (1993), INRA (1989), SCA (1990), NRC (2000). Trong đó, nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì (Metabolizable energy for maintenance: MEm) trong các hệ thống năng lượng được sử dụng hiện nay tại châu Âu và Bắc Mỹ được tính toán trên cơ sở các số liệu của các thí nghiệm đo trao đổi nhiệt. Ví dụ, trong hệ thống năng lượng trao đổi (Metabolizable energy: ME) của ARC (1980), nhu cầu năng lượng thuần cho duy trì (Net enery for maintenance: NEm) được tính toán dựa trên các số liệu về trao đổi đói (Fasting metabolism: FM) cộng với năng lượng thải ra qua nước tiểu ở trạng thái đói (Fasting urinary energy utput), ở bò đực thiến giống chuyên dụng thịt và bò cái sữa không chửa cho ăn hạn chế một thời gian dài (thường là ở mức duy trì).
Tuy nhiên, việc áp dụng nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì cũ ở bò thịt hiện không còn chính xác nữa, một số nước như Anh, Mỹ và cả Châu Âu đang hiệu chỉnh để có hệ thống mới. Ở Việt Nam, các nghiên cứu trước đây thường áp dụng nhu cầu năng lượng (cho duy trì và tăng trọng) của các nước trên thế giới, cho đến nay chưa có số liệu về nhu cầu năng lượng duy trì, nhu cầu tăng trọng cho bò lai nuôi thịt tại Việt Nam trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Việc xác định các nhu cầu này là rất cần thiết và cấp bách, có tính khoa học và thực tiễn cao trong sản xuất hiện nay. Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài: "Xác định nhu cầu năng lƣợng cho duy trì và tăng trọng của bò lai nuôi thịt tại Việt Nam”.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Xác định được nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì và tăng trọng của bò lai nuôi thịt tại Việt Nam. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu xác định nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì và tăng trọng của bò lai nuôi thịt tại Việt Nam được tiến hành trên bò đực Lai Sind và bò đực lai nuôi thịt các giống Droughtmaster, Red Angus, Brahman với bò cái Lai Sind nuôi ở các vùng khác nhau với các điều kiện sinh thái, khí hậu thời tiết và chế độ dinh dưỡng khác nhau. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 4. Về mặt khoa học Kết quả luận án là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng và cân đối năng lượng trong khẩu phần của bò lai nuôi thịt tại Việt Nam nhằm đảm bảo tiết kiệm được thức ăn, đem lại lợi nhuận cho người chăn nuôi bò lai nuôi thịt tại Việt Nam.
Đây cũng là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về nhu cầu năng lượng trao đổi cho độ tuổi nhỏ hơn của bò lai nuôi thịt tại Việt Nam và các nhu cầu ME cho nuôi thai, tiết sữa ở bò cái lai nuôi thịt. Kết quả này cũng là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học cho giảng dạy, nghiên cứu và quản lý. Về thực tiễn Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo có ích cho các doanh nghiệp, chủ trang trại, người chăn nuôi trong xây dựng các khẩu phần phù hợp về năng lượng cho bò lai nuôi thịt tại Việt Nam. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Luận án là công trình khoa học đầu tiên - Nghiên cứu có hệ thống về xác định nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì và tăng trọng của bò lai nuôi thịt tại Việt Nam.
- Ước tính được nhu cầu ME cho duy trì và cho tăng trọng của bò lai nuôi thịt tại Việt Nam. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN Số lượng chất dinh dưỡng cần thiết cho gia súc được gọi bằng thuật ngữ nhu cầu dinh dưỡng hay tiêu chuẩn ăn. Tuy nhiên trong thực tế giữa hai thuật ngữ trên không hoàn toàn giống nhau.
Nhu cầu dinh dưỡng là lượng chất dinh dưỡng mà gia súc cần cho một chức năng nào đó của cơ thể. Còn tiêu chuẩn ăn thường được các hệ thống dinh dưỡng (NRC, AFRC, SCA, ARC…), đưa ra cao hơn nhu cầu một chút nhằm tạo một hành lang an toàn trong nuôi dưỡng. Điều này là do có sự khác nhau chút ít về nhu cầu dinh dưỡng cho cùng một chức năng giữa các gia súc khác nhau (Mc Donald và cs. Theo định nghĩa của Mc Donald và cs.
(2002), nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì của một gia súc là lượng năng lượng cần thiết để gia súc đó duy trì trạng thái cơ thể ổn định, không sản xuất (không cho sữa, không tăng trọng, không mang thai.) và không đi lại hoặc làm bất cứ việc gì. Vì gia súc rất hiếm khi được nuôi ở trạng thái không sản xuất nên dường như trạng thái duy trì chỉ là khái niệm khoa học thuần tuý (Mc Donald và cs. Hơn nữa “Năng lượng trao đổi cho duy trì”, cũng không phải là một khái niệm chặt chẽ, vì nó không tách được phần năng lượng cần cho các hoạt động nhằm duy trì trạng thái cân bằng của cơ thể và phần mất đi cho việc kích hoạt hay do hiệu suất thấp của các phản ứng sinh hóa trong cơ thể (Van Soest, 1994). Mặc dù vậy, các khái niệm này vẫn được tất cả các hệ thống dinh dưỡng hiện hành sử dụng để xác định tiêu chuẩn ăn cho gia súc, gia cầm.
Nhu cầu năng lượng cho sản xuất là lượng năng lượng cần thiết cho các quá trình sản xuất thịt, sữa và nuôi thai của gia súc. Trong vài thập kỷ qua, việc nghiên cứu xác định nhu cầu dinh dưỡng của bò được thực hiện chủ yếu 3 bởi một số nước ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Australia và do đó tất cả các hệ thống dinh dưỡng hiện nay trên thế giới đều được xây dựng từ các khu vực này. Đối với các khu vực còn lại trên thế giới, hầu hết đều áp dụng những hệ thống dinh dưỡng trên để xây dựng khẩu phần ăn. Các nghiên cứu cơ bản chỉ mới được bắt đầu trong những năm gần đây.
Tổng nhu cầu năng lượng của một gia súc hay một gia cầm, chính là tổng các nhu cầu cần cho duy trì và sản xuất của gia súc hay gia cầm đó. Ở bò nói chung, nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì chiếm từ 34 đến 59% tổng nhu cầu năng lượng (Mc Donald và cs., 2002), nhu cầu này phụ thuộc rất nhiều vào loại hình sản xuất (Ferrel và Jenkens, 1987). Ví dụ như ở bò cái sinh sản hướng thịt, nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì chiếm khoảng 70% tổng nhu cầu hàng ngày, trong khi giá trị này là 90% đối với bò đực giống và dưới 40% đối với bò đang sinh trưởng. Điều này cho thấy, sự thành công trong chăn nuôi bò ở bất kỳ hệ thống chăn nuôi nào (trong điều kiện nuôi tận thu, nghèo dinh dưỡng hay trong điều kiện nuôi dưỡng đáp ứng đầy đủ tiềm năng di truyền của giống), đều phụ thuộc rất lớn vào kiến thức và sự hiểu biết về nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì.
CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHU CẦU NĂNG LƢỢNG CHO BÒ 1. Phƣơng pháp nghiên cứu nhu cầu năng lƣợng trao đổi cho duy trì Theo Mc Donald và cs. (3) Đo năng lượng tích lũy bằng kỹ thuật cân bằng Carbon-Nitơ. 4 Thực tế hiện nay người ta thường dùng phương pháp mô hình hóa (Modelling), sử dụng nhiều số liệu, từ nhiều nguồn để tính toán và phân tích (Dumas và cs., 2008; Dhanoa và cs., 2003; Kebrreab và cs., 2004; Mills và cs., 2001; Beever và cs., 2000; Gerrits và cs., 1997; AFRC 1991; Baldwin 1995; Baldwin và Smith, 1971; France và cs., 1987: France và cs.
Mỗi phương pháp tiến hành trên đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Tuy nhiên, hầu hết các hệ thống dinh dưỡng đang được sử rộng rãi trên thế giới như AFRC (1993), NRC (1988, 2001), INRA (1989).đều dựa vào các thí nghiệm trong buồng hô hấp, để xây dựng hoặc chuẩn hóa các bảng nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì và sản xuất của bò. Trong phương pháp này, lượng nhiệt sản sinh từ quá trình trao đổi đói của gia súc, được đo bằng phương pháp đo nhiệt lượng trong buồng hô hấp cộng với lượng nhiệt thải ra trong nước tiểu. Nhiệt sản xuất ra trong điều kiện đói hay nhiệt sản xuất lúc đói (Fasting heat production: FHP) được tất cả các hệ thống dinh dưỡng trên dùng làm cơ sở để xác định nhu cầu năng lượng thuần cho duy trì của con vật.
Do có khác nhau giữa điều kiện thí nghiệm trong buồng hô hấp và điều kiện nuôi dưỡng bình thường, một số hệ thống dinh dưỡng (NRC, 1988; INRA, 1989), lấy giá trị FHP cộng thêm 10% là nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì, trong khi ở một số hệ thống khác (Van Es, 1978) coi FHP chính là nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì. Như đã thảo luận ở phần trên để xác định nhu cầu duy trì người ta thường sử dụng các thí nghiệm trong buồng hô hấp, đo nhiệt lượng hay đo trao đổi đói. Theo Vercoe (1970), bò cần được cho nhịn đói 3 ngày (72 giờ), sau đó đo trong 7 giờ và nhiệt sản xuất ra lúc đói được coi là nhu cầu duy trì. Chandramoni và cs.
(2000) nghiên cứu trên cừu, cho thấy cừu cần phải cho nhịn đói 3 ngày, ngày thứ 4 thì đo trao đổi đói trong 24 giờ. Các tác giả cũng khuyến cáo rằng: Khối lượng và mức ăn trước khi nhịn đói không ảnh hưởng đến FHP. Qin và cs. Sau khi nhịn đói 3 ngày, đến ngày thứ 4, trâu bò được đo trao đổi đói trong hệ thống buồng hô hấp dạng hộp trùm đầu mở (Open-circuit hespiratory head hoods).
Theo các tác giả trên FHP tăng đáng tin cậy khi tuổi gia súc tăng (P<0,05). Qin và cs. (2011), cho rằng FHP giữa các nhóm bò, trâu không sai khác về thống kê. Kết quả nghiên cứu của Vũ Chí Cương và Đinh Văn Tuyền, 2011 (Số liệu chưa công bố, 2011) cho thấy đối với điều kiện Việt Nam, bò phải được nhịn đói 4 ngày sau đó được đo FHP liên tục trong 2 ngày để lấy giá trị trung bình của các lần đo.