Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nông nghiệp của tác giả Nguyễn Xuân Dương có tiêu đề "Nghiên cứu giải pháp kiểm soát chất cấm nhóm Beta Agonist (Clenbuterol, Salbutamol, Ractopamine) trong chăn nuôi lợn", chuyên ngành Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi (mã số: 9 62 01 07), được thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS. Vũ Duy Giảng và PGS. Phạm Kim Đăng tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam năm 2019.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định việc lạm dụng bất hợp pháp các chất thuộc nhóm beta-agonist (gồm clenbuterol, salbutamol, ractopamine) làm chất kích thích sinh trưởng nhằm tăng tỷ lệ nạc, giảm mỡ thân thịt gây nguy cơ ngộ độc cấp tính và đe dọa nghiêm trọng an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Mặc dù Việt Nam đã ban hành lệnh cấm sử dụng từ năm 2002 tại Quyết định số 54/2002/QĐ-BNNPTNT, sau đó được thay thế bởi Thông tư số 28/2014/TT-BNNPTNT và Thông tư số 10/2016/TT-BNNPTNT, tình trạng vi phạm vẫn bùng phát trở lại qua các đợt cao điểm năm 2006, 2012 và 2015. Tác giả luận án chỉ ra hai nút thắt cốt lõi trong công tác kiểm soát:

  1. Nút thắt kỹ thuật: Thiếu phương pháp phân tích khẳng định thống nhất giữa các phòng thử nghiệm trong nước; các phương pháp sàng lọc bằng kit thử nhanh hoặc ELISA thường xuyên xuất hiện dương tính giả, không đủ căn cứ pháp lý để xử lý vi phạm khi có khiếu nại.
  2. Nút thắt quản lý: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu quy định thực thi cụ thể, điển hình là chưa làm rõ gia súc phát hiện dương tính trong nước tiểu phải lưu giữ nuôi tiếp bao nhiêu ngày trước khi kiểm tra lại để xuất bán, cũng như chưa chứng minh được khi nước tiểu âm tính thì các mô ăn được (thịt, gan, thận) đã hết tồn dư hay chưa.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  • Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu xây dựng được các giải pháp kỹ thuật và quản lý sử dụng chất cấm thuộc nhóm beta-agonist trong chăn nuôi lợn thích hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam và thông lệ quốc tế.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá được thực trạng và năng lực trong công tác quản lý chất cấm nói chung và beta-agonist nói riêng.
    2. Xác định được phương pháp định lượng các chất cấm nhóm beta-agonist (CLEN, SAL, RAC) trong thức ăn chăn nuôi và nước tiểu lợn phù hợp với điều kiện thực tiễn, đồng thời đảm bảo độ chính xác và thống nhất giữa các phòng thử nghiệm.
    3. Xây dựng được quy trình kiểm soát chất cấm beta-agonist trong chăn nuôi lợn thịt và đề xuất sửa đổi một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp phân tích định lượng chất cấm nhóm beta-agonist trong thức ăn chăn nuôi và nước tiểu vật nuôi; thức ăn chăn nuôi lợn thịt; 45 lợn thịt lai F1 (Landrace x Yorkshire) có khối lượng trung bình 62,12 ± 3,15 kg.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống 15 phòng thử nghiệm được chỉ định trên toàn quốc; 63 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố; khảo sát thực địa tại các địa phương đại diện cho hai miền Nam, Bắc; cơ sở chăn nuôi thực nghiệm thuộc Viện Chăn nuôi và Khoa Chăn nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu hồi cứu quản lý nhà nước giai đoạn 2011–2016; khảo sát thực địa tháng 9/2016; các nghiên cứu thực nghiệm và đánh giá liên phòng triển khai từ tháng 9/2015 đến tháng 3/2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến cơ chế sinh hóa, hiệu ứng tăng trưởng, độc tính tồn dư và hệ thống chính sách quản lý đối với beta-adrenergic agonist (BAA):

  • Về cơ chế và thụ thể: Lands và cộng sự (1967) phân loại thụ thể beta thành β1 và β2. Tác động phân giải lipid (lipolysis) thông qua kích thích adenyl cyclase làm tăng adenosine monophosphate vòng (AMPc), hoạt hóa protein kinase và lipase phân giải triglyceride thành axit béo tự do được tổng kết bởi Fiems (1987), Vernon (1981), Duquette và cộng sự (1984), Fain và García-Sáinz (1983), Stiles và cộng sự (1984). Ở cơ vân, Thornton và cộng sự (1985), Mersmann và cộng sự (1987), Kim và cộng sự (1987), Johnson (2014) chỉ ra sự phì đại (hypertrophy) của các sợi cơ, đặc biệt là sợi cơ type II tăng sinh gấp 2 đến 3 lần sợi type I, đi kèm giảm phân giải protein (Rothwell và Stock, 1985; Reeds và cộng sự, 1986; Zeman và cộng sự, 1987; Bohorov và cộng sự, 1987; Beermann, 2002).
  • Về đáp ứng trên vật nuôi: Fiems (1987) và Hanrahan (1987) tổng hợp hiệu quả của cimaterol và clenbuterol trên gia cầm (tăng trưởng tăng 2–7%, tiêu tốn thức ăn giảm 3–5%, tỷ lệ thịt xẻ tăng 2–9%, mỡ giảm 8–13%) và trên gia súc nhai lại (bò tăng trưởng đến 20%, nạc tăng 10%). Trên lợn, các thí nghiệm của Dalrymple và cộng sự (1984), Jones và cộng sự (1985), Moser và cộng sự (1986), Wood và cộng sự (2004), Dilaga (2012, 2013), Marchant-Forde và cộng sự (2012) chứng minh ractopamine (5–10 ppm) và salbutamol (2–8 ppm) giúp giảm mỡ lưng, tăng tỷ lệ nạc, cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn. Tuy nhiên, American Veterinary Medical Association (2014) cảnh báo ractopamine làm gia tăng hội chứng stress, biến đổi hành vi hung dữ và hội chứng NANI (non-ambulatory, non-injury) tại lò mổ (tỷ lệ 0,34–0,37% tại Mỹ).
  • Về tồn dư và độc tính: Smith và Paulson (1997) xác định clenbuterol tồn dư cao nhất ở phổi, thận và gan bò. Hashimoto và cộng sự (2003) nghiên cứu sự tồn dư của salbutamol trong nước tiểu và các mô lợn sau 3 và 7 ngày ngừng thuốc. Sujatha và Hegde (1999) ghi nhận salbutamol gây lệch bội nhiễm sắc thể tế bào tủy xương chuột. Các vụ ngộ độc thực phẩm do clenbuterol và salbutamol được ghi nhận tại Tây Ban Nha năm 1990 (135 người), năm 1994 (140 người); Pháp năm 1990 (22 người); Italy (16 người); Trung Quốc (Sơn Hà và Đông Phương, 2012; Thượng Hải năm 2006 với 336 người; Bắc Kinh năm 2009 với 70 người).
  • Về khung pháp lý quốc tế: Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (Codex Alimentarius Commission, 2012) đã thông qua giới hạn tồn dư tối đa (MRL) đối với ractopamine hydrochloride (Cơ: 10 µg/kg; Gan: 40 µg/kg; Thận: 90 µg/kg; Mỡ: 10 µg/kg) dựa trên khuyến cáo của JECFA (FAO/WHO, 2010) với kết quả bỏ phiếu sít sao (69 phiếu thuận/67 phiếu nghịch). Hiện có 25/160 quốc gia (Elanco, 2007) cho phép sử dụng ractopamine (như Hoa Kỳ, Canada, Brazil, Mexico, Australia, Malaysia, Philippines). Ngược lại, Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA/FEEDAP) và Cộng đồng Châu Âu (EC, 2002), Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam cấm tuyệt đối toàn bộ nhóm beta-agonist. Thái Lan quy định kiểm tra đột xuất cơ sở giết mổ bằng kit sàng lọc và khẳng định bằng LC-MS/MS của Cục Phát triển Chăn nuôi (DLD), áp dụng phạt tiền 50.000 baht và phạt tù đến 3 năm (Bongkot và Pitak, 2012; Suppadit, 2012).
  • Về phương pháp phân tích: Các phương pháp sàng lọc gồm kit thử nhanh miễn dịch cạnh tranh (Biopanda, Thời đại Xanh) và ELISA (Randox, Ridascreen, Euro-Diagnostica) có ưu điểm nhanh nhưng dễ gặp phản ứng chéo, dương tính giả (Ponniah và cộng sự, 2014; Phạm Kim Đăng, 2017). Phương pháp sắc ký khối phổ (GC-MS, LC-MS/MS) theo Quyết định 2002/657/EC được xác định là phương pháp khẳng định duy nhất có giá trị pháp lý.

Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án tập trung giải quyết sự thiếu hụt phương pháp phân tích khẳng định chuẩn hóa dùng chung cho các phòng thử nghiệm được chỉ định tại Việt Nam; cung cấp dẫn liệu thực nghiệm về động học đào thải của salbutamol và ractopamine trên lợn nhằm xác lập căn cứ khoa học cho thời gian nuôi giữ cách ly bắt buộc trước khi giết mổ, khắc phục khoảng trống pháp lý của Thông tư số 01/2016/TT-BNNPTNT và các văn bản liên quan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng lý thuyết về dược lý học và nội tiết học phân tử: các chất beta-agonist có cấu trúc hóa học tương tự catecholamine (adrenalin và noradrenalin), gắn vào các thụ thể beta-adrenergic trên bề mặt tế bào. Khi kích hoạt thụ thể β2 và β3, enzyme adenyl cyclase chuyển hóa ATP thành AMPc, hoạt hóa enzyme lipase nhạy cảm với hormone làm tăng quá trình phân giải lipid ở mô mỡ, đồng thời kích thích tổng hợp protein và ức chế dị hóa protein ở cơ xương. Động học chuyển hóa và đào thải của từng phân tử qua thận (nước tiểu) và sự tích lũy trong các mô giàu mạch máu và chuyển hóa (gan, thận, cơ, mỡ) quyết định mức độ tồn dư và thời gian cách ly sinh học.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp giữa phương pháp thực nghiệm hóa phân tích, thử nghiệm sinh học trên động vật và phương pháp điều tra xã hội học - thống kê quản lý:

Nội dung nghiên cứu Đối tượng / Cỡ mẫu Phương pháp thực tế Công cụ và chỉ tiêu đánh giá
Xác định phương pháp phân tích tiêu chuẩn 15 phòng thử nghiệm (PTN) chỉ định; mẫu thức ăn và nước tiểu thêm chuẩn Thẩm định phương pháp; tổ chức thử nghiệm thành thạo liên phòng; hội đồng chuyên gia 07 người Thiết bị LC-MS/MS; giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ), tỷ lệ thu hồi, chỉ số z-score
Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng 63 Sở NN&PTNT; 160 mẫu thực địa (80 mẫu TACN, 80 mẫu nước tiểu) Điều tra gián tiếp qua phiếu hỏi; khảo sát hồi cứu số liệu 2011–2016; lấy mẫu thực địa tháng 9/2016 Thống kê số đợt kiểm tra, số mẫu phân tích, tỷ lệ mẫu dương tính với SAL, RAC, CLEN
Động học đào thải và tồn dư RAC, SAL 45 lợn lai F1 (Landrace x Yorkshire), KL 62,12 ± 3,15 kg; 3 lô (15 con/lô, 3 ô chuồng/lô: 3 đực thiến, 2 cái) Thử nghiệm nuôi dưỡng in vivo 30 ngày (Lô 1: ĐC; Lô 2: RAC 10 ppm; Lô 3: SAL 8 ppm), sau đó ngừng thuốc, theo dõi đào thải Khối lượng sống, FCR, tỷ lệ nạc, mỡ; định lượng LC-MS/MS tồn dư RAC, SAL trong nước tiểu, nạc, mỡ, gan, thận
Hoàn thiện quy trình và cơ chế pháp lý Dữ liệu thực nghiệm và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Phân tích chính sách, đối chiếu thực tiễn quản lý và động học đào thải Khung thời gian cách ly gia súc theo nồng độ nước tiểu; đề xuất sửa đổi Thông tư 01/2016, 24/2013

Phương pháp thử nghiệm thành thạo liên phòng được thiết kế trên mẫu trắng và mẫu củng cố (spiked sample) ở hai mức nồng độ: thức ăn chăn nuôi chứa 10 ppb và 20 ppb; nước tiểu chứa 2 ppb và 5 ppb cho từng chất (CLEN, SAL, RAC).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này phân tích toàn diện cơ chế tác động của beta-agonist lên quá trình phân giải mỡ và tăng tổng hợp protein ở động vật, phân loại các thụ thể β1, β2, β3 và đáp ứng của các loài gia cầm, lợn, bò, cừu. Tác giả tổng hợp các bằng chứng dịch tễ học về những vụ ngộ độc thực phẩm tại Châu Âu và Trung Quốc; phân tích sự bất đồng chính sách giữa tiêu chuẩn MRL của Codex Alimentarius và quy định cấm tuyệt đối của EU. Chương 1 điểm lại các kỹ thuật phân tích hiện hành gồm phương pháp sàng lọc (kit thử nhanh, ELISA với các hiện tượng phản ứng chéo) và phương pháp khẳng định định lượng bằng sắc ký ghép khối phổ (GC-MS, LC-MS/MS). Đồng thời, tác giả khảo sát hệ thống văn bản quản lý nhà nước tại Việt Nam từ Quyết định số 54/2002/QĐ-BNN, Thông tư số 54/2010/TT-BNNPTNT, Thông tư số 57/2012/TT-BNNPTNT, Thông tư số 28/2014/TT-BNNPTNT, Thông tư số 01/2016/TT-BNNPTNT đến Bộ luật Hình sự năm 2015 và các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định 08/2011/NĐ-CP, 119/2013/NĐ-CP, 41/2017/NĐ-CP, 64/2018/NĐ-CP).

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng, địa điểm, thời gian và thiết kế thí nghiệm cho 4 nội dung nghiên cứu. Chương này mô tả quy trình gửi phiếu điều tra năng lực tới 15 phòng thử nghiệm được chỉ định; quy chế hoạt động của hội đồng chuyên môn 7 người để lựa chọn quy trình phân tích LC-MS/MS tối ưu; thiết kế mã hóa mẫu chuẩn cho chương trình thử nghiệm thành thạo liên phòng. Chi tiết hóa phương pháp điều tra hồi cứu thông tin từ 63 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và quy trình lấy 160 mẫu thực địa. Đồng thời, chương 2 thiết lập khẩu phần cơ sở, bố trí 45 lợn thí nghiệm chia đều thành 3 lô (đối chứng, bổ sung 10 ppm RAC, bổ sung 8 ppm SAL) trong 30 ngày vỗ béo, sau đó nuôi dưỡng bằng thức ăn đối chứng và thu thập mẫu nước tiểu, mô nạc, mỡ, gan, thận tại các thời điểm kế tiếp để phân tích dư lượng cho đến khi nồng độ dưới ngưỡng phát hiện.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và thảo luận học thuật theo 4 cấu phần:

  1. Đánh giá năng lực và thống nhất phương pháp phân tích: Điều tra 15 phòng thử nghiệm cho thấy sự không đồng nhất về quy trình xử lý mẫu và thiết bị phân tích nội bộ dẫn đến việc kết luận mẫu khiếu nại gặp khó khăn. Hội đồng chuyên gia đã thống nhất lựa chọn quy trình phân tích bằng thiết bị LC-MS/MS. Kết quả thử nghiệm thành thạo liên phòng trên mẫu thức ăn và nước tiểu khẳng định: 100% các phòng thử nghiệm áp dụng phương pháp đề xuất không cho kết quả dương tính giả (đối với mẫu trắng) và không cho kết quả âm tính giả (đối với mẫu củng cố). Giá trị z-score của các phòng thử nghiệm đối với CLEN, SAL, RAC ở cả hai nền mẫu và các dải nồng độ thử nghiệm (10 ppb, 20 ppb trong thức ăn; 2 ppb, 5 ppb trong nước tiểu) đều đạt yêu cầu chấp nhận.
  2. Thực trạng sử dụng và kiểm soát chất cấm giai đoạn 2011–2016: Số lượng tỉnh triển khai kiểm tra và số mẫu phân tích tăng mạnh trong các năm 2015 và 2016. Tỷ lệ mẫu dương tính trong nước tiểu luôn cao hơn đáng kể so với mẫu thức ăn chăn nuôi (thức ăn chăn nuôi hầu như không phát hiện dương tính tại nhà máy do các đối tượng chủ yếu phối trộn chất cấm trực tiếp tại trang trại hoặc giai đoạn thương lái thu gom). Khảo sát 160 mẫu thực địa tháng 9/2016 ghi nhận sự hiện diện chủ yếu của salbutamol, trong khi clenbuterol không phát hiện.
  3. Động học đào thải và tồn dư của RAC và SAL trên lợn:
    • Việc bổ sung RAC (10 ppm) và SAL (8 ppm) trong 30 ngày làm tăng sinh trưởng và cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn vỗ béo, làm tăng tỷ lệ nạc thân thịt, giảm độ dày mỡ lưng.
    • Về động học đào thải qua nước tiểu: Tốc độ đào thải SAL chậm hơn RAC (cần 7 ngày để nước tiểu âm tính đối với SAL so với 5 ngày đối với RAC).
    • Về mức độ tồn dư trong mô: Sau 5 ngày ngừng sử dụng thức ăn chứa chất cấm, mô nạc và mô mỡ đã hết sạch tồn dư RAC và SAL. Tuy nhiên, trong mô gan và mô thận, tồn dư của cả RAC và SAL kéo dài đến 14 ngày sau khi ngừng sử dụng mới hoàn toàn biến mất.
  4. Quy trình kiểm soát cách ly gia súc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật: Từ thực nghiệm đào thải, tác giả xác lập mối tương quan giữa nồng độ chất cấm phát hiện trong nước tiểu và thời gian nuôi lưu giữ tối thiểu bắt buộc đối với cơ sở vi phạm trước khi được phép tái kiểm tra để giết mổ.
Chất cấm Nồng độ phát hiện trong nước tiểu (ppb) Thời gian nuôi giữ tối thiểu bắt buộc (ngày)
Ractopamine (RAC) < 3 9
3 đến < 7 11
7 đến < 18 13
≥ 18 14
Salbutamol (SAL) < 2 5
2 đến < 5 7
5 đến < 19 9
19 đến < 70 11
70 đến < 550 13
≥ 550 14

Sau thời gian nuôi giữ tối thiểu nêu trên, cơ quan kiểm tra bắt buộc phải lấy mẫu nước tiểu phân tích định lượng lại; chỉ khi kết quả hoàn toàn âm tính mới cho phép giết mổ gia súc. Đồng thời, tác giả đề xuất sửa đổi Thông tư số 01/2016/TT-BNNPTNT về ngưỡng kết luận mẫu dương tính; đề xuất Bộ Y tế rút bỏ quy định MRL đối với CLEN và RAC tại Thông tư số 24/2013/TT-BYT; kiến nghị bổ sung chế tài xử phạt hành chính lên mức tối đa 200 triệu đồng và hoàn thiện các tiêu chí định tội hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự công bố các đóng góp mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn quản lý:

  • Đóng góp mới về mặt khoa học:
    • Xác định và chuẩn hóa được phương pháp phân tích khẳng định định lượng nhóm chất beta-agonist (CLEN, SAL, RAC) trên nền mẫu thức ăn chăn nuôi và nước tiểu bằng thiết bị LC-MS/MS, có giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) phù hợp, tương thích với năng lực kỹ thuật của hệ thống phòng phân tích trong nước.
    • Cung cấp dẫn liệu khoa học thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam về tốc độ và thời gian đào thải của RAC và SAL trong các mô nạc, mỡ, gan, thận của lợn thịt; làm sáng tỏ quy luật tương quan giữa động học đào thải trong nước tiểu với mức độ tồn dư trong các cơ quan nội tạng (chứng minh sau 5 ngày mô nạc, mỡ hết tồn dư nhưng gan và thận cần tới 14 ngày).
  • Đóng góp mới về mặt thực tiễn và chính sách:
    • Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng quy trình kiểm soát, giám sát việc sử dụng chất cấm beta-agonist trong chăn nuôi lợn thịt, giải quyết bài toán lưu giữ động vật tại cơ sở nuôi khi phát hiện mẫu nước tiểu dương tính.
    • Đề xuất điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành: sửa đổi Thông tư số 01/2016/TT-BNNPTNT về việc bổ sung quy định thời gian nuôi tiếp tối thiểu đối với lợn có nước tiểu dương tính với RAC và SAL tương ứng với từng dải nồng độ; kiến nghị đưa quy định MRL của CLEN và RAC ra khỏi Thông tư số 24/2013/TT-BYT nhằm thống nhất nguyên tắc cấm tuyệt đối; kiến nghị nâng mức xử phạt vi phạm hành chính (đã được thể chế hóa trong các Nghị định của Chính phủ) và xây dựng Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) về phương pháp định lượng beta-agonist bằng LC-MS/MS.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung văn bản luận án, các hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm:

  • Hạn chế:
    • Thí nghiệm động học đào thải và tồn dư chuyên sâu chỉ tập trung vào 2 hoạt chất là salbutamol (8 ppm) và ractopamine (10 ppm) trên đối tượng lợn lai F1 (Landrace x Yorkshire) trong điều kiện kiểm soát tại trại thí nghiệm; chưa tiến hành thử nghiệm đào thải đối với clenbuterol do chất này đã bị cấm tuyệt đối từ sớm và ít xuất hiện trên thị trường tại thời điểm nghiên cứu.
    • Số liệu thực trạng tại địa phương dựa chủ yếu vào báo cáo hồi cứu thứ cấp giai đoạn 2011–2016 của các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phụ thuộc vào mức độ quan tâm và nguồn lực kiểm tra của từng tỉnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu mở rộng động học đào thải của các dẫn xuất beta-agonist khác có nguy cơ bị lạm dụng mới phát sinh trong chăn nuôi.
    • Khảo sát sự tích lũy và thời gian đào thải tồn dư beta-agonist trên các đối tượng vật nuôi khác như bò thịt và gia cầm.
    • Nghiên cứu hoàn thiện quy trình tách chiết vi lượng đồng thời đa chỉ tiêu trên nhiều nền mẫu thực phẩm phức tạp.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Chăn nuôi, Cục Thú y, Chi cục Chăn nuôi và Thú y địa phương): Bảng quy định thời gian nuôi lưu giữ gia súc tương ứng với nồng độ chất cấm trong nước tiểu là công cụ nghiệp vụ trực tiếp để ban hành quy định thanh tra, xử phạt và giải quyết tranh chấp pháp lý tại cơ sở chăn nuôi và giết mổ.
  • Hệ thống phòng thử nghiệm phân tích thức ăn và an toàn thực phẩm: Cung cấp quy trình phân tích khẳng định bằng LC-MS/MS đã được thẩm định qua chương trình thử nghiệm thành thạo liên phòng, phục vụ đăng ký chỉ định phòng thử nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Dinh dưỡng động vật, Thú y và Độc chất học thực phẩm: Nguồn tư liệu tham khảo chi tiết về cơ chế dược lý học của hormone analogue, tác động phì đại cơ xương và động học tồn dư thuốc thú y trong mô động vật.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương pháp phân tích nào được luận án khẳng định là phù hợp nhất để làm tiêu chuẩn định lượng beta-agonist tại Việt Nam và kết quả thử nghiệm thành thạo ra sao?
Luận án khẳng định phương pháp sắc ký lỏng ghép hai lần khối phổ (LC-MS/MS) là phương pháp phù hợp nhất. Kết quả thử nghiệm thành thạo liên phòng tại các phòng thử nghiệm được chỉ định cho thấy 100% phòng thử nghiệm khi áp dụng quy trình đề xuất đều không xuất hiện kết quả dương tính giả trên mẫu trắng và không có âm tính giả trên mẫu củng cố (ở cả nền mẫu thức ăn và nước tiểu); toàn bộ giá trị z-score đều nằm trong giới hạn chấp nhận.

2. Động học đào thải của Salbutamol và Ractopamine qua nước tiểu lợn khác nhau như thế nào?
Kết quả thực nghiệm trên 45 lợn lai F1 cho thấy tốc độ đào thải của Salbutamol (SAL) qua nước tiểu chậm hơn so với Ractopamine (RAC). Nước tiểu lợn ngừng ăn thức ăn chứa RAC hết tồn dư sau 5 ngày, trong khi lợn ăn thức ăn chứa SAL cần tới 7 ngày sau khi ngừng sử dụng mới đào thải hết chất cấm ra khỏi nước tiểu.

3. Mức độ tồn dư của RAC và SAL trong các mô ăn được (nạc, mỡ, gan, thận) diễn biến ra sao sau khi ngừng thuốc?
Sau 5 ngày ngừng cho lợn ăn thức ăn bổ sung beta-agonist, trong mô nạc và mô mỡ đã không còn phát hiện tồn dư RAC và SAL. Tuy nhiên, tại các cơ quan chuyển hóa và bài tiết chính là mô gan và mô thận, dư lượng của cả hai chất này vẫn tồn tại kéo dài và phải sau 14 ngày ngừng ăn thức ăn chứa chất cấm thì các mô này mới hoàn toàn hết tồn dư.

4. Luận án quy định thời gian nuôi tiếp tối thiểu bao nhiêu ngày khi phát hiện nước tiểu lợn dương tính với RAC hoặc SAL?
Thời gian nuôi tiếp tối thiểu được phân tầng theo nồng độ phát hiện:

  • Với RAC: Dưới 3 ppb nuôi tiếp tối thiểu 9 ngày; từ 3 đến < 7 ppb nuôi 11 ngày; từ 7 đến < 18 ppb nuôi 13 ngày; từ 18 ppb trở lên nuôi 14 ngày.
  • Với SAL: Dưới 2 ppb nuôi tối thiểu 5 ngày; từ 2 đến < 5 ppb nuôi 7 ngày; từ 5 đến < 19 ppb nuôi 9 ngày; từ 19 đến < 70 ppb nuôi 11 ngày; từ 70 đến < 550 ppb nuôi 13 ngày; từ 550 ppb trở lên nuôi 14 ngày. Hết thời gian này phải phân tích lại nước tiểu, nếu âm tính mới cho phép giết mổ.

5. Vì sao các phương pháp sàng lọc như kit thử nhanh hoặc ELISA không thể dùng làm căn cứ duy nhất để xử phạt vi phạm hành chính?
Các phương pháp sàng lọc bằng kit thử nhanh hoặc ELISA chỉ có tính chất định tính hoặc bán định lượng, thường xảy ra phản ứng chéo với các hợp chất có cấu trúc tương tự (như các hormone tự nhiên hoặc các dẫn xuất khác), dẫn đến tỷ lệ dương tính giả cao. Do đó, theo quy định pháp lý của Việt Nam và quốc tế, chỉ có kết quả phân tích định lượng khẳng định bằng thiết bị sắc ký (như LC-MS/MS) mới xác định chính xác tên chất và nồng độ làm căn cứ xử lý vi phạm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Dương đã giải quyết đồng bộ cả hai khía cạnh kỹ thuật và quản lý đối với vấn đề kiểm soát chất cấm nhóm beta-agonist trong chăn nuôi lợn tại Việt Nam. Công trình đã chuẩn hóa và thẩm định thành công phương pháp phân tích khẳng định bằng LC-MS/MS trên quy mô liên phòng thử nghiệm, đồng thời xác lập các thông số thực nghiệm chính xác về tốc độ đào thải và tồn dư của salbutamol và ractopamine trên các mô cơ thể lợn. Những phát hiện này cung cấp căn cứ khoa học trực tiếp để hoàn thiện quy trình kiểm soát lưu giữ gia súc vi phạm và sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.