Tổng quan nghiên cứu

Sự phát triển công nghiệp hóa mạnh mẽ tại tỉnh Bình Dương đã tạo ra sức hút lớn đối với dòng người di cư, đưa quy mô lao động tại 15 khu công nghiệp và khu chế xuất lên hơn 256.000 công nhân, trong đó lao động nhập cư chiếm tới 70% và lao động nữ chiếm 63,6%. Cùng với sự gia tăng dân số cơ học, mỗi năm địa phương này đón nhận thêm khoảng 5.000 trẻ em bước vào độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo, tạo ra áp lực khổng lồ lên hệ thống an sinh xã hội. Thực trạng quá tải tại các trường mầm non công lập cùng với rào cản về thủ tục đăng ký thường trú đã đẩy phần lớn người lao động vào tình thế phải gửi con tại các nhóm trẻ tư nhân, nhóm trẻ gia đình tự phát tiềm ẩn nhiều rủi ro về an toàn và chất lượng chăm sóc.

Trước bối cảnh đó, nghiên cứu được triển khai với mục tiêu xác định rõ nhu cầu tiếp cận dịch vụ giáo dục mầm non của công nhân có con từ 36 đến 72 tháng tuổi, đồng thời đánh giá thực trạng và vai trò của dịch vụ công tác xã hội trong việc hỗ trợ người lao động tại doanh nghiệp. Địa bàn nghiên cứu được thực hiện tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn May thêu Winning (phường Bình Chuẩn, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương) trong giai đoạn 2017 - 2018, nơi có quy mô 2.700 công nhân với tỷ lệ lao động nữ chiếm 72%.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện rõ nét qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách an sinh xã hội cho công nhân khu công nghiệp. Kết quả đề tài hướng tới việc giải quyết bài toán kinh tế khi chi phí nuôi dạy trẻ hiện chiếm từ 20% đến hơn 30% thu nhập bình quân của người lao động, thiết lập các chỉ số an toàn trong môi trường giáo dục đầu đời và giảm thiểu 100% nguy cơ xảy ra bạo hành đối với con em công nhân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Lựa chọn duy lý (Rational Choice Theory) để giải thích hành vi và quyết định của công nhân khi tìm kiếm nơi gửi con. Theo lý thuyết này, mỗi cá nhân đều hành động có chủ đích, tính toán và cân nhắc các nguồn lực để tối đa hóa lợi ích với chi phí thấp nhất. Người công nhân với mức thu nhập trung bình từ 4 đến 7 triệu đồng mỗi tháng, phải làm việc theo ca kíp kéo dài từ 10 đến 12 giờ, buộc phải đưa ra quyết định duy lý bằng cách chọn các nhóm trẻ tư thục hoặc nhóm trẻ gia đình có mức phí vừa phải, linh hoạt giờ đón trả, dù biết trước những rủi ro về cơ sở vật chất.

Đồng thời, đề tài tích hợp Lý thuyết Thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow nhằm nhận diện hệ thống thứ bậc nhu cầu của gia đình công nhân. Nghiên cứu tập trung phân tích hai tầng bậc cốt lõi: nhu cầu an toàn (môi trường giáo dục không bạo lực, đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh) và nhu cầu xã hội (sự hòa nhập, tin tưởng và gắn kết giữa gia đình với nhà trường).

Hệ thống khái niệm nghiên cứu được xây dựng chuẩn hóa dựa trên quy định của Hiệp hội Quốc gia Nhân viên Xã hội Mỹ (NASW), Hiệp hội Nhân viên Công tác Xã hội Quốc tế (IFSW) và quy chuẩn Giáo dục mầm non theo Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-BGDĐT. Dịch vụ công tác xã hội trong giáo dục mầm non được xác định là hoạt động chuyên môn nhằm cải thiện môi trường chăm sóc trẻ dựa trên 4 trụ cột: cộng đồng hóa, đa dạng hóa, đa phương hóa và thể chế hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định lượng và định tính nhằm thu thập dữ liệu toàn diện và khách quan. Cỡ mẫu định lượng bao gồm 215 công nhân có con trong độ tuổi từ 36 đến 72 tháng tuổi đang làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn May thêu Winning (gồm 169 nữ chiếm 78,6% và 46 nam chiếm 21,4%). Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được lựa chọn vì tính chất đặc thù của ngành may mặc sản xuất theo dây chuyền và làm việc theo ca, giúp tiếp cận đối tượng nhanh chóng và đạt độ tin cậy cao.

Về phương pháp định tính, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 9 trường hợp đại diện (gồm 5 công nhân nhập cư có nhu cầu gửi trẻ, 2 giáo viên trực tiếp chăm sóc tại các cơ sở mầm non và 2 cán bộ phụ trách trẻ em cấp xã/phường), kết hợp với kỹ thuật quan sát thực địa về điều kiện an toàn, khuôn viên và cơ sở vật chất tại các nhóm trẻ. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo chính thức của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương về 204 trường mầm non ngoài công lập đang tiếp nhận 74.676 trẻ trên địa bàn. Quá trình thu thập thông tin diễn ra từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2018, số liệu được xử lý qua các bảng phân phối tần số, tỷ lệ phần trăm và kiểm định mối liên hệ thống kê với độ tin cậy p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế phản ánh bức tranh rõ nét về các rào cản mà công nhân đang đối mặt trong việc tiếp cận dịch vụ giáo dục mầm non cho con:

Thứ nhất, gánh nặng tài chính và cơ cấu độ tuổi lao động: Có tới 61,39% công nhân có con từ 36 đến 72 tháng tuổi nằm trong khung tuổi từ 25 đến dưới 35 tuổi (giai đoạn vàng của sinh sản và lao động). Về chi phí, 73,95% công nhân phải dành tới 20% tổng thu nhập hàng tháng cho việc gửi trẻ, 11,63% chi 30% thu nhập và 12,09% phải chi trả nhiều hơn mức 30% để bồi dưỡng thêm cho bảo mẫu.

Thứ hai, kênh tiếp cận thông tin thụ động: Có tới 53,49% công nhân tìm kiếm nơi gửi con thông qua lời giới thiệu của đồng nghiệp, 10,23% hoàn toàn không có thông tin trước khi gửi, 9,30% tình cờ biết trường và chỉ có 2,33% tiếp cận qua các phương tiện truyền thông chính thức.

Thứ ba, sự lựa chọn cơ sở chăm sóc: Do không đáp ứng điều kiện hộ khẩu thường trú và thời gian đưa đón của trường công lập, 55,35% công nhân chọn trường mầm non tư thục và 8,37% gửi con tại các nhóm trẻ gia đình; chỉ có 35,81% công nhân tiếp cận được trường mầm non công lập.

Thứ tư, khoảng trống dịch vụ công tác xã hội: 93% công nhân khẳng định công ty hoàn toàn chưa có dịch vụ công tác xã hội chuyên trách; 7% công nhân cho rằng có dịch vụ này nhưng thực chất là có sự nhầm lẫn với các hoạt động thăm hỏi công đoàn thường kỳ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên cho thấy công nhân may mặc rơi vào vòng luẩn quẩn giữa thu nhập thấp (48,84% có mức thu nhập từ 5 đến 10 triệu đồng/tháng, 40,93% dưới 5 triệu đồng/tháng) và áp lực chi phí sinh hoạt đô thị. Mức tương quan thống kê có ý nghĩa cao giữa thu nhập và số con (p = 0,004), cũng như giữa độ tuổi và số con (p = 0,037), đã chứng minh rằng các gia đình công nhân trẻ đang chịu sức ép kinh tế nặng nề nhất. Những dữ liệu định lượng này được trình bày trực quan thông qua các bảng đối chiếu chéo và biểu đồ phân bổ cơ cấu, giúp làm nổi bật mối liên hệ giữa các biến số kinh tế và quyết định gửi con.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các công bố khoa học của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khi khảo sát trên 7 tỉnh thành công nghiệp, khẳng định mạng lưới bảo trợ xã hội tại các khu công nghiệp hiện nay gần như bỏ trống mảng can thiệp giáo dục mầm non. Việc thiếu vắng nhân viên công tác xã hội khiến 69,30% phụ huynh chỉ nhận được sự trao đổi mang tính hình thức từ nhà trường (chủ yếu là nhắc nhở đóng học phí), khiến nỗi lo lắng con bị bạo hành luôn thường trực trong tâm lý người lao động mỗi ngày làm việc.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát và phân tích thực trạng, 4 nhóm giải pháp hành động được đề xuất cụ thể như sau:

Thứ nhất, thành lập Tổ Công tác Xã hội chuyên trách tại doanh nghiệp: Ban Giám đốc phối hợp với Công đoàn Công ty TNHH May thêu Winning xây dựng và vận hành Phòng/Tổ Công tác Xã hội. Mục tiêu đặt ra là kết nối, tư vấn và hỗ trợ 100% công nhân có con nhỏ tiếp cận danh sách các trường mầm non đạt chuẩn trong bán kính 3km, hoàn thành triển khai trong quý I/2020.

Thứ hai, thiết lập Mạng lưới thông tin và giám sát liên ngành: Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp với nhân viên công tác xã hội tại các khu công nghiệp xây dựng cổng tra cứu thông tin cơ sở mầm non được cấp phép. Phấn đấu đến hết năm 2020 đạt tỷ lệ 100% cơ sở mầm non tư thục và nhóm trẻ độc lập trên địa bàn phường Bình Chuẩn công khai minh bạch về học phí, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và tỷ lệ giáo viên/trẻ.

Thứ ba, thực thi chính sách hỗ trợ tài chính cho lao động nữ: Doanh nghiệp phối hợp với Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Dương xây dựng quỹ phúc lợi hỗ trợ trực tiếp từ 10% đến 15% chi phí gửi trẻ mầm non hàng tháng cho nữ công nhân nuôi con nhỏ dưới 72 tháng tuổi, áp dụng liên tục từ niên độ tài chính 2020 - 2021.

Thứ tư, chuẩn hóa và cấp phép các nhóm trẻ gia đình: Ủy ban nhân dân cấp xã, phường chủ trì kiểm tra, hướng dẫn các nhóm trẻ quy mô dưới 10 trẻ hoàn thiện hồ sơ đăng ký hành nghề; tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng sơ cấp cứu và phòng chống bạo hành trẻ em cho 100% người giữ trẻ tự phát trước năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thực tiễn và ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm 1 - Ban lãnh đạo doanh nghiệp và cán bộ Nhân sự, Công đoàn tại các khu chế xuất, khu công nghiệp: Cung cấp số liệu thực tế về tâm tư, gánh nặng của người lao động để từ đó thiết kế các gói phúc lợi, thỏa ước lao động tập thể linh hoạt về giờ giấc, giúp giảm tỷ lệ biến động nhân sự và giữ chân người lao động gắn bó dài hạn.

Nhóm 2 - Cán bộ quản lý Nhà nước thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo: Cung cấp cơ sở thực tiễn để hoạch định chính sách an sinh xã hội, tháo gỡ rào cản hộ khẩu trong tuyển sinh mầm non công lập và hoàn thiện khung pháp lý quản lý các nhóm trẻ ngoài công lập tại các địa bàn đô thị hóa nhanh.

Nhóm 3 - Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Công tác Xã hội, Xã hội học: Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu kết hợp, vận dụng khung lý thuyết lựa chọn duy lý và lý thuyết Maslow trong bối cảnh công tác xã hội công nghiệp và trường học tại Việt Nam.

Nhóm 4 - Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các quỹ bảo trợ trẻ em: Sử dụng dữ liệu khảo sát làm luận cứ để xây dựng các chương trình can thiệp cộng đồng, tài trợ trang thiết bị học tập và phát triển mô hình điểm giữ trẻ an toàn, chi phí thấp cho con em công nhân nhập cư.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao công nhân may mặc ít gửi con vào các trường mầm non công lập dù chi phí tại đây thấp hơn? Đa số công nhân nhập cư không có hộ khẩu thường trú hoặc giấy xác nhận tạm trú dài hạn nên rất khó hoàn tất thủ tục nhập học trường công. Bên cạnh đó, thời gian làm việc ca kíp kéo dài 10 đến 12 tiếng mỗi ngày không phù hợp với khung giờ đón trả trẻ nghiêm ngặt của hệ thống công lập, buộc 55,35% phụ huynh phải chọn trường tư thục.

Chi phí dành cho giáo dục mầm non chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong thu nhập của gia đình công nhân? Khảo sát trên 215 công nhân cho thấy có 73,95% người lao động phải dành 20% thu nhập hàng tháng cho tiền gửi trẻ, 11,63% chi 30% và 12,09% chi hơn 30% thu nhập. Đối với mức lương bình quân phổ biến từ 5 đến 10 triệu đồng, đây là một gánh nặng tài chính rất lớn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống.

Vai trò chính của nhân viên công tác xã hội trong môi trường doanh nghiệp là gì? Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò làm cầu nối thông tin, đánh giá nhu cầu gia đình, tư vấn lựa chọn cơ sở giáo dục an toàn, tham vấn tâm lý cho phụ huynh và kết nối các nguồn lực bảo trợ xã hội. Hoạt động này giúp khắc phục tình trạng 53,49% công nhân phải tìm nơi gửi trẻ dựa vào thông tin truyền miệng thiếu kiểm chứng.

Các nhóm trẻ gia đình tự phát tiềm ẩn những nguy cơ nào đối với sự phát triển của trẻ nhỏ? Các nhóm trẻ tự phát thường tận dụng không gian nhà ở chật hẹp, thiếu ánh sáng và vệ sinh không đảm bảo. Đa số người chăm sóc không qua đào tạo nghiệp vụ sư phạm mầm non chuẩn mực, thiếu kỹ năng giao tiếp và sơ cấp cứu, dễ dẫn đến nguy cơ mất an toàn thể chất và phát sinh các hành vi bạo hành trẻ.

Việc doanh nghiệp đầu tư mô hình công tác xã hội mang lại lợi ích kinh tế gì? Khi nhu cầu gửi con an toàn được giải tỏa, người lao động sẽ an tâm sản xuất, giảm thiểu tình trạng nghỉ việc đột xuất hoặc chuyển đổi công việc. Điều này giúp doanh nghiệp may mặc ổn định 72% lực lượng lao động nữ, nâng cao năng suất chuyền may và tiết kiệm chi phí tuyển dụng, đào tạo nhân sự mới.

Kết luận

  • Đề tài đã làm sáng tỏ thực trạng nhu cầu gửi trẻ từ 36 đến 72 tháng tuổi của 215 công nhân tại Công ty TNHH May thêu Winning là vô cùng bức thiết nhưng chưa được hỗ trợ đầy đủ.
  • Số liệu khảo sát chỉ ra khoảng trống lớn khi có tới 93% công nhân chưa tiếp cận được dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp và phải gánh mức chi phí nhà trẻ chiếm 20% đến hơn 30% thu nhập.
  • Nghiên cứu khẳng định sự cần thiết phải tích hợp dịch vụ công tác xã hội vào khu công nghiệp để xóa bỏ các rủi ro bạo hành và bất bình đẳng an sinh xã hội đối với lao động di cư.
  • Đề xuất thành công khung mô hình công tác xã hội doanh nghiệp kết hợp mạng lưới giám sát liên ngành nhằm chuẩn hóa chất lượng chăm sóc mầm non.
  • Cung cấp nguồn cứ liệu khoa học tin cậy, đóng góp vào việc hoàn thiện chính sách an sinh xã hội cho hơn 256.000 công nhân trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là việc tiên phong ứng dụng lý thuyết Công tác Xã hội chuyên nghiệp để giải quyết bài toán giao thoa giữa giáo dục mầm non và đời sống công nhân khu công nghiệp. Trong giai đoạn 2020 - 2022, mô hình công tác xã hội doanh nghiệp cần được thí điểm tại Công ty May thêu Winning trước khi đánh giá hiệu quả để nhân rộng ra toàn bộ các khu chế xuất trên địa bàn tỉnh vào năm 2025. Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức công đoàn và ban lãnh đạo doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp hành động để hiện thực hóa các giải pháp an sinh, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động và tương lai con em công nhân.