ĐẶT VẤN ĐỀ Nghề y là một nghề đặc biệt, nhiệm vụ của CBYT gắn liền với sức khỏe tính mạng con người. Tiến bộ của khoa học kỹ thuật y học phát triển rất nhanh, nhiều kiến thức mới cần được cập nhật kịp thời. Việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chế tối thiểu những sai sót chuyên môn là nhiệm vụ bắt buộc với mọi CBYT hành nghề. Để sử dụng tốt nguồn nhân lực, làm tốt công tác đào tạo mới nguồn nhân lực tại các trường y dược, các nhà quản lý cần quan tâm đến việc đào tạo lại và đào tạo bồi dưỡng liên tục đội ngũ cán bộ để họ có thể đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Xác định được NCĐT của CBYT là rất cần thiết nhằm phát hiện chính xác những vấn đề cần đào tạo, đối tượng cần đào tạo và hình thức đào tạo cho phù hợp. Tại Việt Nam ĐD đã được xem là một nghề độc lập trong hệ thống y tế, cấp bậc, trình độ đã được quy định cụ thể theo Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT- BNV. Trong thực tế tại các cơ sở y tế ĐD thường có đặc thù riêng về công việc mà họ được đảm nhận như ngoại khoa, nhi khoa, phục hồi chức năng. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là bệnh viện chuyên khoa hạng đặc biệt có rất nhiều chuyên khoa như: CTCH, phẫu thuật Tiết niệu, phẫu thuật Tiêu hóa, phẫu thuật Gan mật, Ghép tạng, Gây mê hồi sức, Chẩn đoán hình ảnh.
Hàng năm, bệnh viện thường xuyên tiếp nhận khoảng 150.000 lượt khám bệnh, đặc biệt thực hiện khoảng 14.000 ca phẫu thuật về CTCH, đây là chuyên khoa thường xuyên quá tải tại bệnh viện [30]. Chính vì vậy, ĐD của Viện phải thực hiện khối lượng công việc rất lớn đòi hỏi chuyên môn và năng lực cao. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức có nhiều khóa đào tạo được mở theo chương trình đã được Bộ Y tế phê duyệt tuy nhiên chưa có nghiên cứu về thực trạng ĐTLT của ĐD so với quy định của Bộ Y tế. Hiện nay, công tác ĐTLT tại bệnh viện thiếu sự đồng bộ, kế hoạch đào tạo chưa có cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch và kiểm soát chất lượng đào tạo [30].
Để trả lời các câu hỏi: “Thực trạng ĐTLT cho điều dưỡng tại Viện như thế nào? Nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng tại Viện như thế nào?”. Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng Viện Chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2017”. Kết quả nghiên cứu góp phần cung 2 cấp bằng chứng cho việc thiết kế chương trình và nội dung đào tạo phù hợp cho điều dưỡng tại Bệnh viện. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng đào tạo liên tục cho điều dưỡng Viện Chấn thương chỉnh hình – Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2015 – 2016. Xác định nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng Viện Chấn thương chỉnh hình – Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2017. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm đƣợc sử dụng trong nghiên cứu 1.
Nhu cầu đào tạo Nhu cầu đào tạo của một người là những gì người đó cần học để có kỹ năng và kiến thức cần thiết nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ. Thông thường, nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyện vọng của chính người học. Đôi khi, người học không tự mình thấy được những nhu cầu đó mà cần phải có sự hỗ trợ, tư vấn của người làm công tác đào tạo. Nhu cầu đào tạo định nghĩa là sự chênh lệch giữa các mong muốn, các yêu cầu hay các tiêu chuẩn đặt ra và những thực tế đạt được [1].
Đánh giá nhu cầu đào tạo Đánh giá nhu cầu đào tạo là phần nền tảng của mọi hoạt động đào tạo. Đánh giá nhu cầu đào tạo được thực hiện thông qua một quá trình tìm hiểu về người tham gia và năng lực của họ trước khi đào tạo [30]. Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng sau đây là định nghĩa thường được sử dụng để làm cơ sở cho thực hiện đánh giá nhu cầu đào tạo: Đánh giá NCĐT là chỉ ra những kiến thức và kỹ năng mà những người làm công việc thực tế cần có để có thể hoàn thành được những chức năng và nhiệm vụ của hệ thống. Đánh giá NCĐT được coi là bước quan trọng đầu tiên mà mỗi cơ sở đào tạo cần thực hiện trước khi đưa ra chương trình học phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh thực tế của công việc [8].
Đánh giá NCĐT quan tâm đến nhu cầu cần phải học, không quan tâm đến việc người học có thích hay không. Đánh giá NCĐT giúp xác định sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học đang có so với kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần phải đạt tới [1]. Đào tạo liên tục Theo Ủy ban kiểm định giáo dục y học liên tục của Hoa Kỳ, ĐTLT bao gồm các hoạt động giáo dục được cung cấp để duy trì, phát triển, hoặc nâng cao kiến thức, kỹ năng, hiệu suất làm việc và tác nghiệp của NVYT để cung cấp dịch vụ y tế cho người bệnh, cộng đồng, hoặc nhằm tăng cường sự chuyên nghiệp. Nội dung của ĐTLT là tổng thể của kiến thức và kỹ năng được công nhận về y học, những tiêu chuẩn về thực hành lâm sàng và cung cấp sức khỏe cho cộng đồng.
Nghĩa rộng hơn của ĐTLT bao gồm tất cả các hoạt động giáo dục thường xuyên nhằm hỗ trợ các NVYT để hành nghề một cách có hiệu quả hơn. Ví dụ: một khóa học về quản lý sẽ thích hợp cho các bác sĩ chịu trách nhiệm quản lý một cơ sở chăm sóc sức khỏe; một khóa học về phương pháp giảng dạy sẽ thích hợp cho các bác sĩ giảng dạy tại một trường y tế; một khóa học về lâm sàng sẽ thích hợp cho các NVYT trong việc cung cấp dịch vụ tốt hơn cho người bệnh [28]. Theo Hiệp hội điều dưỡng Hoa Kỳ (1998) đã định nghĩa về ĐTLT trong lĩnh vực điều dưỡng như sau: “là những hoạt động đào tạo có kế hoạch được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm và kiến thức của những điều dưỡng chuyên nghiệp để tăng cường khả năng thực hành, đào tạo, quản lý, nghiên cứu, phát triển lý thuyết nhằm mục tiêu cuối cùng là cải thiện sức khỏe cộng đồng” [21]. Theo Bộ Y tế Việt Nam (Thông tư số 22/2013/TT-BYT) thì ĐTLT: “là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục (Continuing Medical Education); phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân” [9].
Các lý thuyết trong đánh giá nhu cầu đào tạo 1. Lý thuyết khoảng cách [24] Phương pháp phân tích khoảng cách do Beckhard đề xuất. Phương pháp này dựa vào quan điểm của tác giả cho rằng “điều hiển nhiên” thay đổi cần 3 điều kiện: (1)Tình trạng tương lai - Mong muốn của cộng đồng, tổ chức/cơ quan đạt được trong tương lai; (2) Tình trạng hiện tại - Tình trạng của cộng đồng, tổ chức/cơ quan trong 6 thời điểm hiện tại và (3) Tình trạng quá độ - Các điều kiện và hoạt động mà cộng đồng, tổ chức/cơ quan cần phải trải qua để chuyển từ tình trạng hiện tại sang tương lai. Ngoài ba điều kiện rõ ràng ở trên, cần có thêm giai đoạn ban đầu “tại sao thay đổi” và giai đoạn cuối cùng “quản lý trong giai đoạn quá độ” để phương pháp phân tích khoảng cách trở thành phương pháp 5 pha như được minh họa trong hình 1.1 dưới đây: Hình 1.1: Mô hình phân tích khoảng cách Mô hình phân tích khoảng cách bắt đầu bằng câu hỏi “tại sao thay đổi?”, xác định nhu cầu thay đổi và mức độ lựa chọn cho việc thay đổi.
Có nhu cầu thay đổi nếu như một hay nhiều điều kiện cơ bản của tổ chức/cơ quan được mô tả là có chất lượng kém. Điều quan trọng là cần xác định cụ thể điều kiện nào cần thay đổi bằng cách đặt câu hỏi: “điều gì cần phải thay đổi hoặc cần phải tốt 7 hơn?”. Thay đổi có thể bắt nguồn từ môi trường bên ngoài hoặc bên trong tổ chức/cơ quan. Trong trường hợp “bắt nguồn từ môi trường bên ngoài” lãnh đạo của tổ chức/cơ quan có ít cơ hội lựa chọn có thay đổi hay không.
Thay vào đó, họ phải đi thẳng vào vấn đề “thay đổi như thế nào”. Trong trường hợp “bắt nguồn từ bên trong của tổ chức/cơ quan”, có thể có cơ hội để xem xét có xúc tiến thay đổi hay không và làm thế nào quản lý được sự thay đổi. Xác định tình trạng tương lai của tổ chức/cơ quan nghĩa là xác định Viễn cảnh - Sứ mệnh - Mục đích - Mục tiêu của tổ chức/cơ quan. Mô tả tình trạng hiện tại là mô tả về hệ thống của tổ chức/cơ quan chính thức, không chính thức và các mối quan hệ với môi trường tại thời điểm hiện tại và trong thời gian gần.
Giai đoạn “đi từ đây đến kia” đòi hỏi sự chuẩn bị một kế hoạch hành động để thay đổi. Hai vấn đề chính của giai đoạn này là: 1. Xác định những việc và hoạt động chính cho giai đoạn quá độ (kế hoạch hoạt động). Xác định cấu trúc và cơ cấu cần thiết để hoàn thành những công việc trong kế hoạch.
Quản lý trong giai đoạn quá độ là quản lý việc thực hiện kế hoạch hành động. Lý thuyết khoảng cách có thể minh họa một cách đơn giản với những phần cơ bản như sau: Khoảng cách Hiện trạng Lý tưởng Hình 1.2: Mô hình lý thuyết khoảng cách Trong sơ đồ trên, Lý tƣởng là hình ảnh người lao động làm việc tốt nhất ở mỗi vị trí công việc của mình. Hình ảnh lý tưởng thể hiện người lao động có đủ các kỹ năng, kiến thức và phương pháp tiên tiến nhất, phù hợp nhất, để làm việc với hiệu quả cao nhất có thể. Họ có động cơ, thái độ làm việc tích cực, hợp tác với mọi người, vì lợi ích chung.
Họ có khả năng tự phân tích công việc, tự học để liên 8 tục cải tiến phương pháp, nội dung và môi trường làm việc. Hình ảnh lý tưởng là người hoàn thành những công việc của mình như mong đợi và hơn mong đợi, đáp ứng nhu cầu của đối tượng phục vụ. Hiện t rạng là hình ảnh con người đang có.