phần Mở đầu, 4 chương (10 tiết), Kết luận, Danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả và Tài liệu tham khảo. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án * Những công trình nghiên cứu về dân tộc và quan hệ dân tộc Về khái niệm “dân tộc”, các tác giả nước ngoài trước hết đã khu biệt nó với khái niệm “tộc người”.Weber (nhà kinh tế chính trị học và xã hội học người Đức) là một trong những người đầu tiên đã đưa ra khái niệm “tộc người”.
Theo ông, “tộc người là nhóm người mà các thành viên có niềm tin chủ quan vào nguồn gốc chung của họ do giống nhau về hình dạng hay các tập quán, hay do cả hai, hay do có ký ức chung về định cư và di cư”.Gumilev (nhà dân tộc học người Nga) khu biệt hai thuật ngữ „tộc người” và “dân tộc” trên bốn phương diện cơ bản. Theo ông, thứ nhất, “dân tộc” có ý thức hệ chung dưới dạng “chủ nghĩa dân tộc” và sau đó nó được sử dụng làm cương lĩnh chính trị, với mong muốn đạt tới nền tự trị hay chế độ nhà nước riêng của mình. Đối với “tộc người” thì không có cương lĩnh chính trị như vậy. Thứ hai, khi sử dụng “chủ nghĩa dân tộc” với tư cách hệ tư tưởng, “dân tộc” phác họa ra lợi ích chung cho tất cả thành viên và dùng chúng để gắn kết cộng đồng.
Trong khi “tộc người” lại đưa ra văn hóa như chất keo kết dính các thành viên, nhưng không thủ tiêu sự khác biệt về lợi ích giữa các cá nhân cũng như giữa các nhóm. Thứ ba, “dân tộc” dựa trên ý thức hệ của mình (chủ nghĩa dân tộc) để định ra đường biên giới chính trị, khu biệt nó với những cộng đồng khác tương tự. Thứ tư, bản sắc của “dân tộc” chủ yếu được xây dựng dưới sự hậu thuẫn của các thể chế chính trị - pháp lý (nhà nước, pháp luật). Trong khi, các “tộc người” lại khẳng định bản sắc của mình dựa trên các thể chế truyền thống (luật tục, tập quán) hơn là các các định chế pháp lý.
Dân tộc và quan hệ dân tộc là một vấn đề lý luận được rất nhiều học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Trong hàng loạt công trình nghiên cứu căn bản, như “Nationalism Reframed. Nationhood and the National Question in the New Europe” [133] của tác giả R.Brubaker (1996), “Ethnicity and Nationalism. Anthropological 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Perspectives” [138] của Th.Eriksen (1993), “Ethnicity, Nationalism and Conflict in and after the Soviet Union.
The Mind Aflame” [140] của V.Tishkov (1997), “The Revenge of the Past. Nationalism, Revolution and the Collapse of the Soviet Union, Stanford” [135] của R.Suny (1993), “Rethniking Nationalism and Ethnicity. The Struggle for Meaning and Order in Europ” [121] của H. Các tác giả đã đi đến kết luận rằng, dân tộc là một cộng đồng người ổn định, đã hình thành trong lịch sử dựa trên cơ sở thống nhất về nguồn gốc (thống nhất về “dòng máu”), về văn hóa, về nơi cư trú và giao tiếp cùng nhau.
Cơ cấu của chủ nghĩa dân tộc hợp nhất các thành tố sắc tộc (cội nguồn, ngôn ngữ, văn hóa) và xã hội (đời sống kinh tế chung, giao tiếp phát triển và tính nhất thể nhóm). Thêm vào đó, dân tộc hình thành chỉ từ tộc người khi hiện diện các thành tố xã hội của nó mà ý nghĩa quan trọng nhất trong số đó là quan hệ thống nhất - quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ văn hóa, quan hệ giữa cá nhân với nhau, là sự giao tiếp. Dân tộc được quan niệm là đại diện chính của chế độ nhà nước và của chủ quyền, việc thành lập nhà nước dân tộc là giai đoạn tối cao trong quá trình phát triển của dân tộc và khát vọng tự nhiên của dân tộc là nhận được chủ quyền quốc gia. Điều này cụ thể được phản ánh trong khái niệm đặc biệt "nhà nước dân tộc" là khái niệm nhấn mạnh sự thống nhất của các cơ cấu như vậy.
Trên thực tế, đa số nhà nước trên thế giới đã hình thành trên cơ sở dân tộc. Sự thống nhất về ngôn ngữ, truyền thống và văn hóa của dân tộc thúc đẩy sự phát triển giao tiếp, sự tạo ra một thị trường và nhà nước thống nhất. Tuy nhiên, các tác giả cũng nhấn mạnh rằng, dân tộc và nhà nước là các hiện tượng hoàn toàn độc lập, thường không trùng hợp với nhau. Tại một số quốc gia, chẳng hạn như Thụy Sĩ (kể cả Mỹ), cư dân có sự nhất thể dân tộc khác nhau và nhà nước khác nhau, tự coi mình là đại diện của tộc người Đức, Pháp, Ý và đồng thời là đại diện của dân tộc Thụy Sĩ với tư cách một cộng đồng công dân, chứ không phải là đại diện của một cộng đồng sắc tộc và của nhà nước Thụy Sĩ.
Khi có tính đến sự không nhất thiết phải hợp thức hóa dân tộc về mặt nhà nước, một số tác giả như R. Xét về mặt lịch sử, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ý định của dân tộc thành lập nhà nước độc lập hoặc có nguyên nhân là nguyện vọng của các đại diện của nó được giải phóng khỏi sự thống trị và sự áp bức của dân tộc khác, hoặc có nguyên nhân là khát vọng của một tộc người thiết lập sự thống trị đối với đại diện của các tộc người khác. Trong điều kiện chế độ nhà nước dân chủ hiện đại, lợi ích dân tộc đặc thù của các nhóm tộc người và khu vực riêng biệt hoàn toàn có thể được đảm bảo nhờ sự tự trị nhà nước hay chế độ liên bang. Kết thúc ở việc thành lập một nhà nước độc lập, các ý định phân lập chủ nghĩa thường mang lại thiệt hại kinh tế và các thiệt hại khác cho công dân của nhà nước mới được thành lập.
Kinh nghiệm thành lập một liên minh nhà nước mới chứng tỏ rằng nhiều tộc người tự nguyện khước từ các yếu tố quan trọng về chủ quyền của mình một cách có lợi cho việc thành lập một liên minh nhà nước rộng lớn hơn, đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội và của những công dân riêng biệt. Các lý thuyết hiện đại khác nhau về quan hệ dân tộc được các tác giả nước ngoài phân tích đặc biệt sâu sắc. Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh bản chất của chủ nghĩa dân tộc là học thuyết và thực tiễn chính trị căn cứ trên việc đối lập giữa các dân tộc, trên việc thừa nhận địa vị đặc biệt và ưu thế của dân tộc mình đối với các dân tộc khác và trên khát vọng đảm bảo cho dân tộc mình những đặc quyền nhờ dựa vào các nhóm dân tộc khác. Chủ nghĩa dân tộc là một biến thể của thói ích kỷ nhóm, không thừa nhận quyền bình đẳng của các dân tộc và đại diện của chúng.
Điểm này phân biệt chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa yêu nước như chủ nghĩa kết hợp tình yêu dân tộc mình với việc thừa nhận quyền bình đẳng của tất cả các dân tộc khác. Chủ nghĩa dân tộc hình thành trên cơ sở các cộng đồng dân tộc hiện thực, tuy nhiên nó thổi phồng vai trò của những sự khác biệt dân tộc và những ưu thế của dân tộc mình. Sử dụng tự ý thức dân tộc, tình cảm yêu tổ quốc, sự giống nhau về ngôn ngữ, sắc tộc, v., nó chuyển hóa chúng thành một lập trường thù địch, hiếu chiến đối với các dân tộc khác. Một số tác giả phân biệt giữa chủ nghĩa dân tộc sắc tộc và chủ nghĩa dân tộc công dân (hay nhà nước).
Chủ nghĩa dân tộc sắc tộc căn cứ trên sự thống nhất về nguồn gốc, ngôn ngữ và văn hóa, còn chủ nghĩa dân tộc nhà nước căn cứ trên sự thuộc về một nhà nước nào đó. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo một số tác giả, vấn đề về chủ nghĩa dân tộc trở nên đặc biệt gay gắt trong hoàn cảnh tồn tại của cái gọi là “dân tộc phi nhà nước”. Dân tộc phi nhà nước là dân tộc không có nhà nước dân tộc của riêng mình. Nhà nước xuất hiện sớm hơn dân tộc rất nhiều.
Nhưng chỉ ở thế kỷ XX, toàn bộ bề mặt của trái đất mới hoàn toàn được phân định bởi những nhà nước. Đơn vị của chế độ nhà nước được gọi là dân tộc, đã xuất hiện ở Anh vào thế kỷ XVI theo con đường tiến hóa. Mô hình này hàm ý chỉ việc biến cư dân của một nhà nước thành dân tộc. Nhờ đó nhà nước dân tộc đã xuất hiện.
Việc củng cố kết cấu dân tộc và nhà nước dân tộc đã diễn ra trong quá trình cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp. Kết quả của chúng là sự xuất hiện các nhà nước dân tộc dân sự. Vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, những người theo chủ nghĩa dân tộc đã chuẩn bị luận chứng cho việc thừa nhận về mặt chính trị “các dân tộc không có lịch sử”. Họ đã tổ chức các phong trào phổ biến một chuẩn mực sắc tộc thông qua báo chí và giáo dục cho những thành viên tiềm tàng của các sắc tộc ấy.
Đồng thời những người theo chủ nghĩa dân tộc cũng đạt được một sự thừa nhận quốc tế và chính trị lớn hơn đối với các sắc tộc phi nhà nước. Các sắc tộc phi nhà nước được nhắc tới trong các văn bản ghi nhớ nhiều hơn tại hàng loạt quốc gia như: Nga, Đức, Hungary, v. Ngoài ra, việc thừa nhận tính hợp thức của các sắc tộc phi nhà nước cũng được xúc tiến nhờ có sự xuất hiện của nhà nước dân tộc của các sắc tộc tại vùng Balcan như: Séc bi, Rumani, Bungari, Albani, Na Uy, v. Việc thừa nhận dứt khoát các sắc tộc phi nhà nước diễn ra sau thế chiến thứ nhất.
Các cường quốc phương Tây do Mỹ cầm đầu đã thừa nhận quyền dân tộc tự quyết với tư cách nguyên tắc xây dựng và duy trì trật tự quốc tế. Sau sự tan rã của Liên Xô và Nam Tư, các sắc tộc phi nhà nước một lần nữa lại có được nhà nước dân tộc riêng của mình. Sau sự tan rã của hệ thống thuộc địa, các nhà nước hậu thuộc địa vấp phải vấn đề xây dựng dân tộc riêng của mình dựa trên cơ sở dân sự. Trong thế giới hiện đại được phân định rõ ràng giữa các nhà nước dân tộc, có một xu hướng nổi bật là phủ định tính hợp thức của các sắc tộc phi nhà nước.