Chương 1 đã giới thiệu lý do cần nghiên cứu. Từ vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu cụ thể sẽ được đặt ra trong chương này cũng như trình bày về phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và kết cấu của đề tài. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương 2 của nghiên cứu này trình bày cơ sở lý thuyết về lợi nhuận của ngân hàng thương mại như các khái niệm cũng như cách thức đo lường cùng một số lý thuyết nền, làm nền tảng cho phần bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng. Ngoài ra chương này tác giả cũng nêu tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan.1 LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại Theo điều 4 Luật tổ chức tín dụng 2010: ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực thi toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhầm mục tiêu lợi nhuận (là cầu nối giữa người đi vay và cho vay).
Cụ thể hơn thì Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi từ các tác nhân trong nền kinh tế, sau đó thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời khác, đồng thời thực hiện cung cấp đa dạng các danh mục dịch vụ tài chính, tín dụng, thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế. Như vậy, rõ ràng ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính có vai trò quan trọng của nền kinh tế. Trước hết, với vài trò trung gian tài chính, ngân hàng thương mại thực hiện việc chuyển các khoản tiết kiệm (chủ yếu từ hộ gia đình) thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các tác nhân khác thực hiện các hoạt động đầu tư. Đồng thời, ngân hàng thương mại là người cung cấp các khoản tín dụng cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất, là một trong những thành viên quan trong nhất của thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền trung ương và địa phương phát hành để tài trợ cho các chương trình công cộng.
Ngân hàng thương mại cũng là một trong những tổ chức cung cấp vốn lưu động, vốn trung hạn và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp.2 Khái niệm lợi nhuận ngân hàng thương mại Lợi nhuận của NHTM là khỏan chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu trừ đi tổng các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ trong năm tài chính. Lợi nhuận là chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Tuy nhiên, người ta thường ít sử dụng giá trị tuyệt đối để đánh giá vì nếu so sánh số tuyệt đối giữa các ngân hàng không cùng quy mô sẽ không chuẩn xác, thay vào đó sử dụng các chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và các chỉ tiêu khác như Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS), Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM). Đánh giá lợi nhuận cùng như xác định các yếu tố tác động đến lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTM giúp những nhà quản lý, điều hành ngân hàng biết được hiệu quả hoạt động, các lợi thế tài chính của ngân hàng mình, cùng như những bất cập.
để từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh kịp thời, phù hợp nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và tăng trưởng thu nhập một cách bền vững. Gia tăng lợi nhuận không những giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, mà còn có thể gia tăng thu nhập cho các cổ đông, nâng cao phúc lợi và khen thưởng cho người lao động, ổn định nhân sự, ồn định tổ chức và nâng cao thương hiệu uy tín của ngân hàng (Nguyễn Đăng Dờn, 2014).3 Chỉ tiêu đo lường lợi nhuận ngân hàng Để đo lường, đánh giá lợi nhuận ngân hàng, người ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Trong giới hạn của bài nghiên cứu, tác giả sử dụng hai chi tiêu chính sau: ❖ Tỷ lệ lợi nhuận trên tống tàỉ sán (ROA): là chỉ tiêu cho thấy hiệu quả của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập, nói cách khác ROA thể hiện 1 đồng tài sản của ngân hàng sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROA càng cao thì khả năng sinh lời càng cao, ngân hàng có cơ câu tài sản hợp lý và ngược lại.
Cách tính ROA: Lợi nhuận sau thuế 𝑅𝑂𝐴 = Tổng tài sản 8 ❖ Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): cũng là một trong các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận, đây là chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của ngân hàng nghĩa là 1 đồng vốn chủ sở hữu sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm). ROE càng cao thì càng có lợi cho ngân hàng, chứng tỏ ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, cơ cấu nguồn vốn hợp lý và ngược lại. ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông có được từ nguồn vốn bỏ ra. Cách tính ROE: Lợi nhuận sau thuế 𝑅𝑂𝐸 = Vốn chủ sở hữu 2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NỀN 2.1 Lý thuyết sức mạnh thị trường Lý thuyết cấu trúc - thực thi - hiệu quả (Structure - Conduct - Períormance, SCP) lần đầu được đề xuất bởi Bain (1951).
Cách tiếp cận SCP lập luận rằng hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng phụ thuộc vào hành vi của các ngân hàng, và tiếp theo phụ thuộc vào cấu trúc. Thị trường có mức độ tập trung cao có thể khiến một ngân hàng hành xử theo hướng thông đồng với nhau, và kết quả là hiệu quả hoạt động của ngân hàng sẽ trở nên tốt hơn (Goddard và các cộng sự, 2007). Lợi nhuận của các NHTM có thể được xác định bởi mức độ tập trung của thị trường. Do đó, lỷ thuyết SCP giải thích cấu trúc thị trường (mức độ tập trung của thị trường) thông qua việc thực thi (hành vi) của các ngân hàng sẽ xác định được lợi nhuận của các NHTM.
Tóm lại, lý thuyết SCP cho rằng chỉ tồn tại một chiều hướng tác động từ cấu trúc thị trường đến hành vi của các ngân hàng và cuối cùng là hiệu quả của các NHTM. Như vậy theo lý thuyết này mức độ tập trung của thị trường (Chỉ số tập trung thị phần, Chỉ số cạnh tranh của thị trường) là yếu tố tác động tích cực đến lợi nhuận ngân hàng.2 Lý thuyết Hiệu quả - cấu trúc Lý thuyết hiệu quả - cấu trúc xuất hiện từ sự chi trích lý thuyết cấu trúc thực thi - hiệu quả của Demsetz (1973) và Peltzman (1977). Lý thuyết hiệu qua -cấu trúc cho rằng mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả hoạt động của bất kỳ ngân 9 hàng nào được xác định bởi hiệu quả của ngân hàng. Các ngân hàng có trình độ quản lý vượt trội cùng như sử dụng công nghệ tiên tiến thì thường có chi phí thấp hơn và do đó lợi nhuận của các ngân hàng này sẽ cao hơn.
Ý tưởng của lý thuyết hiệu quả - cấu trúc dựa trên thực tế là các ngân hàng hiệu quả thì thường có chi phí thấp hơn, điều này dẫn đến lợi nhuận cao hơn. Lý thuyết hiệu quả - cấu trúc đã được đề xuất trong hai giả thuyết, giả thuyết hiệu quả - cấu trúc - X - hiệu quả (ESX) và giả thuyết hiệu quả - cấu trúc - quy mô - hiệu quả (ESS). Như vậy theo lý thuyết này chi phí của ngân hàng là yếu tố tác động tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng.3 Lý thuyết ưa thích chi phí Lý thuyết hành vi ưa thích chi phí được thực hiện nhằm giải thích lợi nhuận của các ngân hàng như nghiên cứu của Haron (1997) và AI Manaseer (2007). Lý thuyết này được giới thiệu lần đầu bởi Becker (1957) và được phát triên thêm bơi Williamson (1963).
Lý thuyết ưa thích chi phí cung cấp một cái nhìn khác liên quan đến hành vi quan trị. Lý thuyết này đề xuất rằng mục tiêu chính mà các nhà quản lý theo đuổi không phải là tối đa hóa lợi nhuận mà là sở hữu các tiện ích của ngân hàng, thường đạt được thông qua việc tăng lương hoặc chi phí nhân viên khác. Williamson (1963) báo cáo rằng ban quản lý có thể gia tăng chi phí nhân viên thay vì tặp trung nghiêm ngặt vào việc tối đa hóa lợi nhuận. Nếu ban quản lý thích số lượng nhân viên lớn hơn hoặc có nhiều chi nhánh, phòng giao dịch hơn, điều này thường được phản ánh trong ngắn hạn với tỷ lệ hiệu quả cao hơn.
Theo đó, các quyết định có thể đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng trong dài hạn. Nói cách khác, quy mô của ngân hàng được gia tăng thì dường như sẽ giúp ngân hàng cải thiện lợi nhuận. Như vậy theo lý thuyết này quy mô ngân hàng là yếu tố giúp gia tăng lợi nhuận ngân hàng.4 Lý thuyết đa dạng hóa thu nhập ngân hàng Nguồn thu nhập của ngân hàng bao gồm thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi, trong đó phần lớn thu nhập là từ lãi. Tuy nhiên, kể từ khi các cơ quan quản lý cho phép các ngân hàng đa dạng chức năng qua các hoạt động như đầu tư, bảo hiểm, dịch vụ.
đã dẫn đến một mức độ biến động chéo trong chiến lược đa dạng hóa của các ngân hàng. Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ làm cho thu nhập của ngân hàng không còn tập 10 trung duy nhất vào nguồn thu từ chênh lệch lãi suất giữa huy động và cho vay mà còn mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác. Có nhiều lý do khiến các ngân hàng thực hiện đa dạng hóa trong giai đoạn hiện nay. Thứ nhất, khi thực hiện chiến lược đa dạng hóa, các ngân hàng có cơ hội mở rộng và bán chéo sản phẩm.
Ví dụ, theo DeYoung và Rice (2004), việc bán chéo sản phẩm tạo ra nhiều lợi ích và giá trị cho cả khách hàng và ngân hàng. Khách hàng có thể coi ngân hàng như là một điểm đến đa dịch vụ (one-stop shopping), nơi mà họ có thể mua tất cả các sản phẩm ngoài các sản phẩm truyền thống như mở tài khoản và các dịch vụ thanh toán. Đối với ngân hàng có thể thêm nguồn thu nhập. Đây là một điểm thuận lợi cho các ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, đồng thời là cơ hội để ngân hàng thu hút và mở rộng sản phẩm đến nhiều đối tượng khách hàng khác nhau.