Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết liên quan đến lợi nhuận ngân hàng thương mại Chương 3: Mô hình và dữ liệu nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách 4 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Những vấn đề liên quan đến lợi nhuận của ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm NHTM và lợi nhuận NHTM Khái niệm NHTM: Theo luật các tổ chức tín dụng (Luật số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010), tại điều 4 khoản 3 và 12 quy định:”Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận” Tại Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Khái niệm lợi nhuận NHTM: Theo TS.Nguyễn Thị Tuyết Nga (2016): Lợi nhuận NHTM là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng thu nhập phải trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý hợp lệ. Đây là chỉ tiêu tài chính để phản ánh hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Nhà quản trị luôn tìm mọi cách để không ngừng gia tăng lợi nhuận.
Gia tăng lợi nhuận nhằm mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, mà còn tăng thu nhập cho các cổ đông nhờ mức chi trả cổ tức cao, điều này sẽ làm cho giá trị cổ phiếu của tổ chức tín dụng trên thị trường tăng, thương hiệu và uy tín của ngân hàng được phổ biến hơn. Gia tăng lợi nhuận còn là điều kiện để nâng cao phúc lợi và khen thưởng cho người lao động, làm cho họ gắn bó với nơi làm việc, giúp ổn định nhân sự, tổ chức. Một số ý kiến khác cho rằng: Lợi nhuận NHTM là chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi sau khi trừ đi những chi phí về nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng cộng với các thu nhập khác về kinh doanh tư bản tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng. Nguyễn Đăng Dờn (2012): Lợi nhuận của ngân hàng thương mại là chỉ tiêu tài chính cuối cùng để phản ánh hiệu quả kinh doanh.
Theo Luật Kế toán và Luật Thống kê, tất cả các đơn vị kinh tế đều phải xác định kết quả tài chính sau một niên độ kế toán 5 Theo lý thuyết lợi nhuận ngân hàng: Lợi nhuận ngân hàng là chỉ số quan trọng đánh giá hoạt động của ngân hàng, nó thể hiện tỷ lệ lợi nhuận mà ngân hàng có thể tạo ra từ việc sử dụng các nguồn vốn của ngân hàng để kinh doanh. Theo lý thuyết lợi nhuận ngân hàng: Lợi nhuận ngân hàng là thước đo hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Các ngân hàng tạo ra lợi nhuận bằng cách bán các dịch vụ của ngân hàng tạo ra nhiều tiền hơn chi phí phải trả. Phần lợi nhuận chính của ngân hàng đến từ phí dịch vụ, các khoản lãi thu được từ tài sản của ngân hàng.
Chi phí chính của ngân hàng chính là tiền lãi phải trả cho các khoản huy động. Tài sản chính của ngân hàng là các khoản cho vay cá nhân, doanh nghiệp và các công ty, chứng khoán, trong khi các khoản nợ chính của ngân hàng là tiền gửi và tiền đi vay từ các ngân hàng khác hoặc bán thương phiếu trên thị trường tiền tệ. Để xác định khả năng sinh lợi của ngân hàng nếu chỉ nhìn vào thu nhập trên mỗi cổ phiếu của các ngân hàng là chưa đủ. Điều quan trọng là phải biết ngân hàng đang sử dụng tài sản và vốn chủ sở hữu để tạo ra lợi nhuận một các hiểu quả như thế nào.
Ba tỷ suất sinh lời cần đánh giá để xem xét hoạt động của ngân hàng là: - Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA): (Thu nhập ròng/ Tổng tài sản)*100 - Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): (Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu)*100 - Biên lãi ròng (NIM): (Thu nhập lãi ròng/ Tổng tài sản)*100 2.2 Cách xác định lợi nhuận của NHTM Theo PGS. Nguyễn Đăng Dờn (2012): Kết quả tài chính cuối cùng được xác định theo công thức: Kết quả tài chính cuối cùng = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Nếu tổng thu nhập > Tổng chi phí: Ngân hàng kinh doanh có lãi (Lãi trước thuế) Nếu tổng thu nhập < Tổng chi phí : Ngân hàng kinh doanh bị lỗ Nếu tổng thu nhập = Tổng chi phí : Ngân hàng kinh doanh hòa vốn Trường hợp ngân hàng kinh doanh có lãi, cần xác định số thuế thu nhập phải nộp, từ đó xác định số lãi ròng (Lãi sau thuế) của ngân hàng trong kỳ 6 Có thể thấy rằng chênh lệch giữa tất cả các khoản thu nhập và chi phí là lợi nhuận của ngân hàng. Các khoản thu ngân hàng nhận được và tổng các khoản chi phí phát sinh trong một thời kỳ nhất định được thể hiện trên báo cáo thu nhập của ngân hàng. Quy mô của những khoản mục chính trong Bảng cân đối kế toán và Báo cáo thu nhập của một ngân hàng thường có mối quan hệ mật thiết.
Các tài sản trên Bảng cân đối kế toán tạo ra phần lớn các thu nhập, trong khi các khoản nợ tạo ra hầu hết các khoản chi phí của một ngân hàng. Thu nhập của NHTM bao gồm phần thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi. Chi phí của NHTM bao gồm chi phí trả lãi và chi phí ngoài lãi.3 Các chỉ tiêu đo lƣờng lợi nhuận của NHTM Theo PGS. Nguyễn Đăng Dờn (2012): Để đánh giá lợi nhuận của một ngân hàng có thể dựa trên nhiều yếu tố khác nhau.
Trong đó, hai chỉ tiêu quan trọng và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau là Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Tỷ suất sinh lời trên tài sản ROA (Return on Assets): Chỉ số này thể hiện tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận ròng so với tài sản có trung bình của một ngân hàng: Công thức tính ROA ROA = Ý nghĩa của ROA Chỉ số ROA thể hiện 1 đồng vốn doanh nghiệp đầu tư vào tài sản sẽ đem về bao nhiêu lợi nhuận. ROA càng cao càng thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng tốt. Đối với bất kỳ ngân hàng nào, ROA phụ thuộc vào các quyết định chính sách cũng như các yếu tố không kiểm soát được liên quan đến nền kinh tế và quy định của chính phủ.
Theo nghiên cứu của Tôn Thất Viên (2018): ROA là một tỷ số tài chính toàn diện để đo hiệu suất lợi nhuận của các ngân hàng. Chỉ số này đo lường hiệu suất tổng thể của các ngân hàng. Theo nghiên cứu của Rose (2002): ROA được xác định bởi lợi nhuận ròng trên tổng tài sản. ROA đo lường khả năng sinh lời trên một đồng vốn đầu tư.
Do đó, 7 ROA có thể được sử dụng để chỉ ra hiệu quả của quản lý ngân hàng trong việc chuyển đổi tài sản vào doanh thu. ROA luôn được mong đợi cao hơn bởi vì điều này có ý nghĩa rằng việc quản lý có hiệu quả, tạo ra lợi nhuận bằng cách sử dụng các tài sản. Và ROA không bị bóp méo bởi các nhân tố vốn chủ sở hữu cao. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE (Return on Equity): Chỉ số này thể hiện tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận ròng so với vốn tự có bình quân của ngân hàng hay gọi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lời tài chính (suất sinh lời tài chính) Công thức tính ROE ROE = Ý nghĩa của ROE Chỉ số ROE thể hiện 1 đồng vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp bỏ ra để phục vụ hoạt động thu về bao nhiêu lợi nhuận.
Chỉ tiêu này đặc biệt được các nhà đầu tư chú ý và quan tâm đến khi đưa ra quyết định đầu tư. ROE càng cao càng thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Ngược lại nếu chỉ tiêu này thấp thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư. Theo Tôn Thất Viên (2018): ROE được xác định bằng công thức tỷ lệ lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu.
Nó đo lường lợi nhuận của ngân hàng trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu (Rose 2002). Nó cho thấy hiệu quả của quản lý ngân hàng trong việc sử dụng nguồn vốn của cổ đông để tạo ra lợi nhuận. ROE luôn mong đợi cao vì nó thể hiện hiệu quả trong việc quản lý vốn của cổ đông và tạo ra thu nhập cho các cổ đông đầu tư vốn vào ngân hàng. ROE có thể được chia thành một yếu tố đòn bẩy giữa hiệu suất sử dụng tổng tài sản, tỷ suất tổng tài sản trên vốn cổ phần và ROA, hay ở khía cạnh khác là giữa hiệu suất sử dụng tổng tài sản, tỷ suất tổng tài sản trên vốn cổ phần và tỷ suất sinh lời trên doanh thu.
Trong ngắn hạn, ROA đo lường hiệu quả tổng thể về lợi nhuận từ quan điểm của một ngân hàng sử dụng tổng tài sản của mình như thế nào, trong khi ROE xem xét lợi nhuận từ quan điểm của các cổ đông. Theo Võ Xuân Vinh và Đặng Bửu Kiếm (2016): Tỷ số ROA và ROE của năm trước sẽ có tác động tích cực đến lợi nhuận kì sau của ngân hàng như là một động lực thúc đẩy, gia tăng mức lợi nhuận kì sau.4 Các yếu tố ảnh hƣởng đến lợi nhuận của NHTM Trong hầu hết các nghiên cứu của Athanasoglou và cộng sự (2008), Dietrich & Wanzenried (2011), Batten & Vinh (2019),… sử dụng các nhân tố như quy mô tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, rủi ro, chi phí hoạt động như là các yếu tố nội tại của ngân hàng. Trong khi mức độ tập trung thị trường ngành ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội hay lạm phát được xem như các yếu tố bên ngoài ngân hàng. Yếu tố nội tại của ngân hàng Quy mô vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu còn được gọi là vốn tự có, là vốn riêng của một NHTM.
Đây là số vốn ban đầu được gia tăng không ngừng cùng với quá trình phát triển của ngân hàng. Về phương diện quản lý: Vốn tự có là số vốn tối thiểu, bắt buộc một ngân hàng thương mại phải có để được cấp giấy phép kinh doanh, đồng thời là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác.