Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan về lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm đã có trước đây về các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền nắm giữ. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Chương này bao gồm hai phần chính. Phần đầu giải thích các nội dung liên quan đến việc nắm giữ tiền, bao gồm định nghĩa và những lý do dẫn đến việc nắm giữ tiền. Phần sau giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền nắm giữ được dự đoán bằng các lý thuyết tài chính và các kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả.
Nắm giữ tiền mặt Trong lý thuyết tài chính, tiền được định nghĩa bao gồm tiền, các khoản chứng khoán thị trường ngắn hạn và các khoản tương đương tiền (Opler et al. Các khoản tương đương tiền có đặc điểm là có thể chuyển đổi thành tiền trong một khoảng thời gian ngắn. Nắm giữ tiền xét trên khía cạnh tài chính được hiểu là việc nắm giữ tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp. Có rất nhiều lý do để doanh nghiệp nắm giữ tiền.
Sau đây là bốn lý do chủ yếu khiến doanh nghiệp nắm giữ tiền: Động cơ giao dịch: Các doanh nghiệp cần tiền để dùng cho hoạt động kinh doanh. Nhu cầu về tiền giữa các loại hình kinh doanh cũng rất khác nhau. Ví dụ, các doanh nghiệp bán lẻ phải có sẵn tiền trong két của cửa hàng để hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, các doanh nghiệp này cần tiền để bổ sung lượng hàng tồn kho thiếu hụt hoặc để thanh toán lương.
Ngược lại, một doanh nghiệp kinh doanh phần mềm máy tính có thể hoạt động với một số dư tiền nhỏ hơn nhiều (Damodaran, 2008). Động cơ dự phòng: Một doanh nghiệp nắm giữ tiền để tài trợ cho những hoạt động kinh doanh và những khoản đầu tư khi những nguồn tài chính khác không có sẵn hoặc quá đắt (Custodio, Ferreira và Raposo, 2005). Doanh nghiệp nắm giữ tiền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 để trang trải những khoản chi phí bất ngờ và những khoản nợ tiềm tàng chưa xác định được. Ví dụ, các doanh nghiệp kinh doanh có tính chu kỳ sẽ tích lũy tiền mặt trong thời gian bùng nổ kinh tế và dùng số tiền đó trong trường hợp suy thoái kinh tế để trang trải thâm hụt từ hoạt động kinh doanh (Damodaran, 2008).
Nếu doanh nghiệp không có sẵn những tài sản thanh khoản thì việc thiếu hụt dòng tiền có thể ngăn cản việc đầu tư vào những dự án có lợi nhuận, vì thế doanh nghiệp sẽ nắm giữ tiền để loại bỏ chi phí kiệt quệ tài chính. Động cơ nắm giữ tiền này được xem là động cơ dự phòng (Ozkan và Ozkan, 2004). Động cơ đại diện: trong các doanh nghiệp đại chúng luôn tồn tại vấn đề người chủ và người quản lý. Ban quản lý sẽ quyết định liệu tiền được trả lại cho cổ đông hay được giữ lại trong doanh nghiệp.
Trong rất nhiều doanh nghiệp, ban quản lý có sẵn các chương trình hoạt động và với lượng tiền sẵn có sẽ tạo thành nguồn quỹ giúp họ theo đuổi các chương trình này. Vì thế, khi ban quản lý quan tâm việc đạt được nhiều quyền kiểm soát hơn là việc phân bổ tối ưu các nguồn lực thì họ sẽ tích lũy tiền, không phải là vì mục đích làm tốt cho cổ đông mà nhằm mục đích mở rộng ngân quỹ (Damodaran, 2008). Ban quản lý yêu thích việc nắm giữ lượng tiền dư thừa vì họ sợ rủi ro. Cũng theo Opler et al (1999), ban quản lý tích trữ tiền để có thể linh động trong việc theo đuổi những mục tiêu của chính mình.
Đầu tư trong tương lai: nếu thị trường vốn hiệu quả, doanh nghiệp có thể huy động vốn để đầu tư vào những dự án mới hoặc những khoản đầu tư khác mà không tốn chi phí giao dịch. Tuy nhiên trong thực tế, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những hạn chế và những khoản chi phí để tiếp cận thị trường vốn. Những hạn chế này có thể xuất phát từ bên trong, cũng có thể xuất phát từ bên ngoài doanh nghiệp, nhưng chủ yếu là từ bên ngoài doanh nghiệp. Để đối mặt với những khó khăn này, doanh nghiệp phải trích lập sẵn tiền để trang trải nhu cầu đầu tư trong tương lai, nếu không doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro buộc phải từ bỏ các dự án đầu tư có giá trị (Damodaran, 2008).
Hai lý do đầu tiên được dùng chủ yếu trong bài nghiên cứu và là hai lý do chính yếu để giải thích cho lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhóm các nghiên cứu về mặt lý thuyết 2. Một số lý thuyết nền tảng 2.
Bất cân xứng thông tin Bất cân xứng thông tin làm cho việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn. Người bên ngoài muốn đảm bảo chứng khoán mà họ mua không bị định giá quá cao, do đó họ sẽ một mức chiết khấu hợp lý. Bởi vì người bên ngoài doanh nghiệp nắm ít thông tin hơn ban quản lý, họ có thể định giá cổ phiếu quá thấp dựa trên những thông tin được cung cấp bởi ban quản lý (Myer và Majluf, 1984). Thực tế, người bên ngoài có thể chiết khấu một mức đủ lớn để ban quản lý thấy rằng không bán cổ phiếu còn có lợi hơn là bán và vì thế họ sẽ giảm đầu tư thay vì bán cổ phiếu ra bên ngoài.
Lý do bất cân xứng thông tin dẫn đến nguồn vốn bên ngoài trở nên đắt hơn. Mô hình bất cân xứng thông tin đưa ra lý do giải thích tại sao nguồn vốn bên ngoài lại trở nên đắt đỏ. Mô hình này dự đoán chi phí huy động vốn tăng khi chứng khoán được bán có mức độ nhạy cảm thông tin và khi vấn đề bất cân xứng thông tin trở nên quan trọng hơn (Opler et al. Chi phí đại diện cho các quyết định quản lý Nghiên cứu về lý thuyết đại diện được khởi đầu bởi Jensen và Meckling (1976) trên nền tảng những nghiên cứu sớm hơn được thực hiện bởi Fama và Miller (1972).
Jensen và Meckling mô tả hai loại mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa cổ đông và ban quản lý và mâu thuẫn giữa cổ đông và trái chủ. Cổ đông là người chủ của doanh nghiệp và ban quản lý là người đại diện cho doanh nghiệp. Việc tách biệt người chủ và người quản lý dẫn đến tách biệt quyền sở hữu và quyền quản lý của doanh nghiệp. Khi có sự hiện diện của chi phí đại diện của các quyết định của ban quản lý, ban quản lý có thể nắm giữ tiền để theo đuổi mục tiêu của họ với chi phí thuộc về chủ sở hữu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ nhất, ban quản lý có thể sẽ nắm giữ tiền đơn giản là để tránh rủi ro. Ban quản lý càng cố thủ càng có khả năng nắm giữ nhiều tiền để tránh khỏi kỷ luật thị trường. Vì thế, có thể kỳ vọng rằng những doanh nghiệp với điều khoản chống thâu tóm có khả năng sẽ nắm giữ lượng tiền dư thừa. Thứ hai, ban quản lý tích trữ tiền để có thể linh động theo đuổi mục tiêu của họ.
Tiền giống như dòng tiền tự do. Tiền giúp cho ban quản lý có thể đầu tư khi thị trường tài chính không sẵn lòng tài trợ cho những khoản đầu tư này. Trong khi ban quản lý không thể vay bất kì khi nào họ muốn thì họ lại có thể sử dụng tiền bất kỳ khi nào họ cần khi doanh nghiệp có sẵn tiền. Bằng cách giúp cho ban quản lý có thể tránh khỏi kỷ luật thị trường vốn, đầu tư bằng tiền có thể đem lại những tác động bất lợi lên giá trị của doanh nghiệp.
Nói cách khác, doanh nghiệp tăng nắm giữ một đô la tài sản thanh khoản có thể tăng giá trị doanh nghiệp ít hơn một đô la. Khả năng ban quản lý được sử dụng tiền với mục tiêu của chính họ có thể làm tăng chi phí huy động vốn bên ngoài, bởi vì người bên ngoài không biết được rằng ban quản lý tăng tiền để làm tăng giá trị của doanh nghiệp hay là theo đuổi mục tiêu của chính họ. Thứ ba, ban quản lý có thể tích lũy tiền bởi vì họ không muốn trả cổ tức cho cổ đông và muốn nắm giữ tiền trong doanh nghiệp. Có sẵn tiền, ban quản lý sẽ phải dùng nó và vì thế họ có thể sẽ đầu tư vào các dự án tồi khi không chọn được những dự án tốt.
Nhìn chung, chi phí đại diện của các quyết định quản lý ít quan trọng và có thể không đáng kể đối với những doanh nghiệp có những cơ hội đầu tư có giá trị vì khi đó mục tiêu của cổ đông và ban quản lý trùng nhau (Opler et al. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lý thuyết liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền nắm giữ 2. Lý thuyết đánh đổi (Trade-off model) Lý thuyết đánh đổi cho rằng các doanh nghiệp sẽ thiết lập một lượng tiền nắm giữ mục tiêu bằng cách cân bằng giữa chi phí biên và lợi ích biên của việc nắm giữ tiền.
Ba lợi ích chính từ việc nắm giữ tiền đó là: Thứ nhất, nắm giữ tiền làm giảm khả năng kiệt quệ tài chính vì lượng tiền nắm giữ sẽ đóng vai trò như khoản dự phòng an toàn cho những khoản lỗ bất ngờ hoặc những hạn chế từ việc huy động nguồn vốn từ bên ngoài. Thứ hai, nắm giữ tiền cho phép doanh nghiệp theo đuổi những chính sách đầu tư tối ưu kể cả khi doanh nghiệp gặp phải những hạn chế về tài chính. Khi doanh nghiệp gặp phải những khó khăn trong việc huy động vốn từ bên ngoài, doanh nghiệp có thể buộc phải từ bỏ những dự án đầu tư có hiện giá ròng dương. Thứ ba, nắm giữ tiền làm giảm chi phí huy động vốn từ bên ngoài hay tránh trường hợp buộc phải thanh lý tài sản hiện có của doanh nghiệp, tiền đóng vai trò như cái đệm giữa nguồn và sử dụng nguồn của doanh nghiệp.
Chi phí biên truyền thống của việc nắm giữ tiền là chi phí cơ hội của vốn vì nó làm giảm tỷ suất sinh lợi tính trên tài sản lưu động (Ferreira và Vilela, 2004). Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking order theory) Lý thuyết trật tự phân hạng của Myers (1984) cho rằng: các doanh nghiệp sẽ tài trợ cho các khoản đầu tư theo thứ tự như sau: đầu tiên là lợi nhuận giữ lại, sau đó là nợ an toàn, tiếp theo là nợ có rủi ro và cuối cùng là vốn chủ sở hữu.