CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Tính cấp thiết của đề tài Theo báo cáo của Bộ tài chính, ước tính giải ngân vốn đầu tư công 8 tháng là 161.286 tỷ đồng, bằng 37,92% dự toán (Quốc hội giao) và bằng 41,39% so với kế hoạch của Thủ tướng chính phủ giao. Đây là mức giải ngân thấp nhất trong cùng kỳ những năm gần đây. Theo báo cáo của Bộ kế hoạch và đầu tư, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công 8 tháng đầu năm 2019 vẫn rất thấp.
Rất quan ngại là có 29 bộ ngành và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới 40%, trong đó có 8 bộ, ngành có tỷ lệ giải ngân đạt dưới 5%. Hai bộ cho biết, bên cạnh một số nguyên nhân khách quan thì nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư công hiện nay là do yếu tố chủ quan, nhất là những tồn tại, yếu kém trong công tác quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện như: giao vốn chậm, dự kiến nhu cầu vốn chưa sát với thực tế giải ngân, chậm trong công tác thiết kế thi công, giải phóng mặt bằng, thanh quyết toán chậm, các dự án phải theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, xây dựng, đất đai. Bên cạnh đó vai trò của người đứng đầu cũng chưa được đề cao. Có thể nói chậm giải ngân vốn đầu tư công là một bất cập lớn của nền kinh tế nước ta hiện nay.
Quả thật công điện ngày 21/8/2019 của Thủ tướng chính phủ về thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn đầu tư công nhấn mạnh: giải ngân chậm, tỷ lệ giải ngân thấp làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, làm ảnh hưởng đến các ngành, lĩnh vực, tăng trưởng kinh tế, tiền tệ, tác động đến môi trường đầu tư, kinh doanh,… (theo thời báo Ngân hàng ngày 16/9/2019) Thực hiện yêu cầu của Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, ngành xây dựng đã kiến nghị bãi bỏ 5 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Cùng với đó, bãi bỏ 41,3%, đơn giản hóa 47,3% và giữ nguyên 15% trên tổng số 215 điều kiện đầu tư kinh doanh. (theo báo Doanh nghiệp Việt Nam ngày 04/01/2019) Bộ cũng đã tập trung thực hiện có hiệu quả các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng; cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Mặc dù đạt được một số kết quả nhất định nhưng hoạt động của ngành xây dựng vẫn còn một số những khó khăn như: Chủ đầu tư không thực hiện đúng quy trình, thủ tục gây chậm trễ trong thanh, quyết toán công trình dẫn đến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu vốn, không đủ sức cạnh tranh.
Tiến độ giải ngân của một số dự án mặc dù có chuyển biến nhưng thực tế chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. 1 Quá trình thanh, quyết toán diễn ra chậm là nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc chậm tiến độ của dự án. Các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước còn bị ảnh hưởng của việc giải ngân là do cơ chế thủ tục rườm rà, phức tạp. Quá trình thanh toán chậm thường dẫn đến các kế hoạch dòng tiền của nhà thầu luôn ở trong trạng thái bị động, việc thỏa thuận chi trả cho nhân công, vật tư khó khăn.
Điều này dẫn đến việc nhà thầu kéo dài thời gian thực hiện dự án, làm cho chi phí công trình tăng lên. Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về tốc độ phát triển, cũng như đóng góp vào ngân sách của đất nước, do đó các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, giao thông luôn được quan tâm nhiều nhất, nguồn vốn ngân sách đầu tư hằng năm là rất lớn. Là một nhân sự đã và đang làm việc tại các dự án hạ tầng giao thông của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tôi nhận thấy vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong các khâu thanh quyết toán các dự án hạ tầng, giao thông dẫn đến việc giải ngân vốn đầu tư công không đạt được kết quả như mong đợi. Vì vậy, trong luận văn này, tôi cố gắng tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thanh, quyết toán các dự án hạ tầng giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế việc chậm trễ, khó khăn trong công tác thanh quyết toán công trình, đẩy nhanh việc thanh quyết toán, đồng thời cung cấp thêm thông tin, tài liệu tham khảo để các chủ đầu tư, doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng, các cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước xem xét, thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh quyết toán các dự án.
Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu được tiến hành để đáp ứng những mục tiêu sau: - Làm rõ cơ sở lý luận và các khái niệm thanh, quyết toán đối với dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước - Xác định các vấn đề làm chậm quá trình thanh toán của các dự án hạ tầng giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu - Phân tích, phân nhóm và đánh giá xếp hạng các nhân tố làm chậm quá trình thanh quyết toán. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đề tài được khảo sát đối với các dự án hạ tầng giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vì tác giả đã và đang tham gia vào các dự án này, các số liệu khảo sát sẽ đáng tin cậy hơn. - Đối tượng khảo sát là Ban lãnh đạo, kỹ sư của phòng kỹ thuật dự án Ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, huyện Đất Đỏ, các chỉ huy trưởng của các công ty xây dựng, các công ty tư vấn giám sát trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia vào các dự án hạ tầng, giao thông sử dụng vốn ngân sách. Đóng góp của nghiên cứu - Về mặt học thuật: kết quả của đề tài có thể làm cơ sở để các đề tài kế tiếp nghiên cứu sâu sắc hơn về định lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến chậm thanh quyết toán không chỉ trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng giao thông mà còn trong nhiều lĩnh vực khác, góp phần đẩy nhanh công tác thanh quyết toán, thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn, hoàn thành dự án kịp thời.
- Về mặt thực tiễn: nghiên cứu đã xác định các nhân tố có tác động mạnh đến sự chậm trễ trong thanh quyết toán các công trình hạ tầng giao thông sử dụng vốn ngân sách ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Điều này sẽ giúp cho các đơn vị trực tiếp tham gia dự án, đặc biệt là Nhà thầu thi công, Chủ đầu tư hoặc Ban quản lý dự án giảm thiểu nguy cơ chậm trễ trong công tác thanh quyết toán. 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. Các khái niệm và cơ sở nghiên cứu 2.
Khái niệm vốn ngân sách nhà nước Vốn ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. (theo điều 4 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015) Đối với cấp hành chính là huyện, thị xã thì việc nhận vốn ngân sách cho đầu tư bao gồm vốn đầu tư của Nhà nước cấp thông qua Sở tài chính, vốn ngân sách của tỉnh. Vốn ngân sách là nguồn vốn được huy động chủ yếu từ nguồn thu thuế và các loại phí, lệ phí.
Đây là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng, mặc dù vốn ngân sách chỉ chiếm 13% vốn đầu tư xã hội, song là nguồn vốn nhà nước chủ động điều hành, đầu tư các lĩnh vực ưu tiên phát triển then chốt của nền kinh tế như sau: - Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đường giao thông, hạ tầng đô thị, các công trình cho giáo dục – văn hóa xã hội, quản lý Nhà nước… - Đầu tư các dự án sự nghiệp kinh tế như: - Sự nghiệp giao thông, duy tu, bão dưỡng, sửa chữa cầu đường - Sự nghiệp nông thôn, thủy lợi như: duy tu, bảo dưỡng các tuyến đê, kênh mương, các công trình thủy lợi,… - Sự nghiệp thị chính như: duy tu bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng, vỉa hè, hệ thống cấp thoát nước. - Đối với các địa phương cấp huyện, thị xã thì vốn này là rất quan trọng, nhất là đối với những địa phương nghèo, nguồn thu cho ngân sách còn ít. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời tạo nguồn lực tài chính công rất quan trọng của quốc gia. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN cũng như các nguồn vốn khác, đó là biểu hiện bằng tiền của giá trị đầu tư, bao gồm các khoản chi phí tiêu hao nguồn lực, phục vụ hoạt động đầu tư.
Vốn đầu tư là tiền và tài sản hợp pháp khác để thực hiện hình thức đầu tư trực tiếp hay gián tiếp. (Luật đầu tư công năm 2005) 4 Đặc điểm của vốn đầu tư xây dựng thuộc ngân sách nhà nước Đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN gồm các đặc điểm chính sau: - Thứ nhất: vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN gắn với hoạt động của NSNN nói chung và hoạt động chi NSNN nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn theo phân cấp về chi NSNN cho đầu tư phát triển. Do đó, việc hình thành, phân chia, sử dụng và thanh quyết toán vốn này cần được thực hiện chặt chẽ và phân cấp phê duyệt rõ ràng. - Thứ hai: vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN được sử dụng chủ yếu để đầu tư cho các công trình dự án không có khả năng thu hồi vốn và công trình hạ tầng theo quy định của luật NSNN và các luật khác.
Do đó, việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn mang tính toán diện, trên cơ sở đánh giá tác động của kinh tế, xã hội và môi trường. - Thứ ba: vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN gắn với các quy trình đầu tư dự án, chương trình đầu tư rất chặt chẽ từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án đến khâu kết thúc đầu tư, nghiệm thu và đưa dự án vào sử dụng.