PHẦN MỞ ĐẦU 1. Vấn đề nghiên cứu Đại dịch Covid -19 đi qua để lại hậu quả dài lâu đã làm ảnh hưởng thực sự nghiêm trọng đến sự phát triển nền kinh tế tại các quốc gia, dẫn đến sự gia tăng bất ổn và rủi ro trong môi trường kinh doanh. Khi đại dịch xảy ra đã làm giảm đáng kể doanh thu và lợi nhuận của các DN, đồng thời làm tăng nguy cơ mất khả năng thanh toán. Để đối phó với những rủi ro này, các DN buộc phải gia tăng các khoản dự phòng cho nợ xấu và các khoản phải thu khó đòi từ đó làm cho việc ghi nhận các khoản dự phòng trở nên thận trọng hơn.
Bên cạnh đó, khi nền kinh tế bị suy thoái do đại dịch có thể làm giảm giá trị tài sản như bất động sản, nhà máy hoặc thiết bị, để đảm bảo BCTC phản ánh trung thực tình hình tài chính thì các CT phải đánh giá lại và giảm giá trị của những tài sản không còn giá trị như ban đầu, điều này đòi hỏi một mức độ thận trọng cao hơn trong việc đánh giá giá trị tài sản. Covid-19 cũng gây một áp lực lớn lên dòng tiền của nhiều DN làm cho việc quản lý dòng tiền trở thành ưu tiên hàng đầu được đặt ra. Điều này cũng sẽ thúc đẩy các DN áp dụng các biện pháp thận trọng hơn trong các quyết định tài chính và KT để duy trì tính thanh khoản và sự ổn định tài chính. Ngoài ra, hàng loạt sự kiện bùng phát trên toàn cầu như chiến tranh giữa Nga và Ukraina, biến đổi khí hậu, sự khan hiếm về nguồn năng lượng khí đốt, biến động giá cả làm gia tăng khả năng không chắc chắn về các sự kiện trong tương lai.
Các sự kiện này xảy ra có tác động cụ thể như: tăng mức độ không chắc chắn và rủi ro tài chính. Đó là vì các sự kiện này có ảnh hưởng đến giá cả chuỗi cung ứng và khả năng thanh toán của các bên liên quan, gây ra sự gián đoạn chuỗi cung ứng và biến động giá trị tài sản, thay đổi trong tỷ giá và rủi ro ngoại tệ, ảnh hưởng tính bền vững và hoạt động dài hạn của DN. Các NĐT – những đối tượng quan tâm đến thông tin KT cũng trở nên dè dặt, cẩn trọng, sợ rủi ro hơn trong các vấn đề đầu tư. Do đó, họ dựa nhiều hơn vào các thông tin, đặc biệt là thông tin trên BCTC.
Vì vậy, các thông tin này đóng vai trò rất 2 quan trọng đối với các đối tượng có nhu cầu sử dụng. Khi đó, các CT phải thận trọng hơn trong việc lập BCTC để nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC, tạo niềm tin cho người sử dụng thông tin chẳng hạn như các NĐT và các chủ nợ. BCTC như là một bảng giải trình của cấp điều hành, quản lý DN về tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình kinh doanh, dòng tiền luân chuyển và số liệu này phải được lập dựa trên các chuẩn mực, chế độ và các quy định khác có liên quan. Trong bối cảnh này, việc áp dụng TTKT trở thành cần thiết để đảm bảo BCTC phản ánh được rủi ro và tổn thất tiềm năng giúp NĐT và các bên liên quan có cái nhìn trung thực hơn về “sức khỏe tài chính” của DN.
Theo Sterling (1970), TTKT là một quy luật lâu đời và có ảnh hưởng nhất trong việc lập BCTC. TTKT đã ảnh hưởng đến thực tiễn và lý thuyết KT trong hàng nhiều thế kỷ qua (Ball và Shivakumar, 2005, Basu, 1997, Watts, 2003a). Theo NC của Watt (2003a), Ball và Shivakumar (2005), các NQL DN có xu hướng tự nguyện công bố những tin tức tích cực và giữ lại tin xấu. Bên cạnh đó, các nhà NC này cũng đề xuất rằng một hệ thống BCTC có thể thúc đẩy việc công bố các thông tin DN bằng cách giảm yêu cầu kiểm chứng đối với những thông tin không thuận lợi.
Theo Ahmed và Duellman (2007) cùng với García Lara và cộng sự (2007) cho rằng TTKT mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giảm thiểu vấn đề ủy nhiệm, tăng cường các điều khoản trong hợp đồng, giảm thiểu các chi phí kiện tụng và hạn chế sự bất cân xứng thông tin. Vai trò của tính thận trọng trong KT là một yêu cầu rất trọng tâm trong các học thuyết KT từ thế kỷ 19. Theo Braun (2019), thận trọng là một trong những nguyên tắc KT đã tồn tại theo thời gian, đã chứng minh lợi ích khi áp dụng thông qua các NC trước rằng việc áp dụng nó phù hợp hơn so với việc không áp dụng nó. TTKT ảnh hưởng đến các số liệu KT trong các báo cáo KT của CT.
TTKT nhận được quan tâm trong các cuộc hội thảo và các cơ quan ban hành chính sách, trong việc xây dựng và ban hành các quy định liên quan trong việc lập và trình bày BCTC. Theo Hajawiyah và cộng sự (2020), TTKT rất quan trọng được sử dụng để giải quyết các bất ổn trong các hoạt động kinh tế và kinh doanh của DN. TTKT xử 3 lý, ghi nhận nhanh các tình huống dẫn đến thua lỗ, các trường hợp có khả năng tạo ra lợi nhuận sẽ bị trì hoãn ghi nhận cho đến khi tình huống đó xảy ra đáng kể. Ngoài ra, trong những năm qua trên thế giới đã xảy ra nhiều vụ bê bối liên quan đến gian lận tài chính.
Những vụ gian lận tài chính gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sự minh bạch và trung thực của BCTC. Waste Management năm 1998 đã “xào nấu” lại BCTC để tăng lợi nhuận bằng nhiều cách mà trong đó TTKT có nhấn mạnh như: ghi giảm chi phí khấu hao bằng cách ghi nhận cao giá trị thanh lý tài sản cố định và kéo dài thời gian sử dụng ước tính của tài sản, không ghi nhận hoặc ghi nhận không đúng các khoản dự phòng theo quy định. Các sự kiện bê bối của Eron Corporation năm 2001, Toshiba năm 2015, Tập Đoàn bất động sản Evergrande năm 2021 đã lập hàng loạt CT con để che giấu các khoản nợ nhằm tăng cường điểm tín dụng, để lấy lòng tin từ các bên. Các tập đoàn này cũng đã bỏ qua TTKT trong ghi nhận doanh thu bằng cách ghi nhận các khoản doanh thu ước tính bán được thay vì ghi nhận các khoản doanh thu thực tế được hưởng.
Tại VN cũng đã xảy ra các cuộc bê bối lớn như trường hợp của CT CP Y Tế Việt Nhật JVC năm 2015, CT CP Dược Phẩm Cửu Long năm 2014, Tập Đoàn Kỹ Nghệ Gỗ năm 2016, Tập Đoàn Vạn Thịnh Phát năm 2022. Các CT này đã thực hiện gian lận phổ biến trong BCTC như che giấu công nợ và chi phí, ghi nhận doanh thu không có thực hay khai cao doanh thu, định giá sai tài sản, cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ KT, chính sách tài chính. Trần Thị Vân (2021) cũng đưa ra nhận định gian lận BCTC được thực hiện phổ biến thông qua việc thổi phồng lợi nhuận, ẩn giấu các khoản nợ, khai khống giá trị tài sản,. Tất cả những bê bối xảy ra này đã làm mất niềm tin của NĐT vào thông tin được trình bày trên BCTC.
Vì vậy, việc áp dụng TTKT sẽ thúc đẩy các DN xây dựng các quy trình kiểm soát nội bộ nghiêm ngặt hơn, thiết lập gia tăng các khoản dự phòng, ghi nhận doanh thu và chi phí một cách cẩn trọng hơn, cải thiện dòng tiền và giám sát chặt chẽ các khoản mục nhạy cảm. Trong các điều kiện không chắc chắn, TTKT trở thành một đặc điểm mong muốn để đo lường KT và định giá. Như tác giả đã đề cập ở trên, TTKT là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo tính 4 minh bạch và gia tăng độ tin cậy của BCTC. Nghiên cứu về TTKT sẽ cung cấp một cái nhìn sâu sắc về tác động của TTKT đến quyết định đầu tư, chất lượng BCTC và hiệu quả DN.
Bên cạnh đó, một số khoảng trống về lý thuyết liên quan đến TTKT chưa được NC đầy đủ và còn tồn tại một số mâu thuẫn như: Thứ nhất, TTKT hiện nay được định nghĩa và đo lường theo nhiều cách khác nhau. Một số NC đo lường tập trung vào tính bất đối xứng của việc ghi nhận lợi nhuận và tổn thất (Basu, 1997, Ball và Shivakumar, 2006), một số NC khác thì đo lường TTKT theo tỷ lệ GTTT trên GTSS như (Beaver và Ryan, 2000), Penman, 2013),. Tuy nhiên, chưa có sự thống nhất về cách đo TTKT, gây ra sự khó khăn trong việc so sánh kết quả NC giữa các quốc gia và lĩnh vực khác nhau. Thứ hai, các NC trước chưa vận dụng đầy đủ các LT để biện dẫn các mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc (TTKT), để xây dựng mô hình NC và kiểm định các giả thuyết đó.
Thứ ba, mối quan hệ giữa TTKT và chất lượng thông tin tài chính trên BCTC khi các NC hiện tại đã đưa ra những quan điểm khác nhau về việc TTKT có cải thiện hay làm giảm chất lượng thông tin tài chính. Một số nhà NC như Basu (1997), Watts (2003),. cho rằng TTKT giúp cung cấp thông tin tài chính hữu ích và ít rủi ro hơn, trong khi những NC khác như Gigler và Hemmer (2001), Guay và Verrecchia (2006), Beaver và Ryan (2005),.lại cho rằng TTKT có thể làm giảm tính trung thực của thông tin và gây ra sự mơ hồ trong BCTC. Từ những vấn đề đã được trình bày ở trên, có thể nói rằng, theo các nhà NC, TTKT giúp thúc đẩy tính minh bạch trong BCTC.
TTKT sẽ giúp giảm thiểu rủi ro từ việc BCTC quá lạc quan, từ đó đảm bảo sự minh bạch và trung thực, hợp lý trong việc công bố thông tin. Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến TTKT sẽ giúp nâng cao chất lượng thông tin tài chính, từ đó tăng cường niềm tin của các NĐT, cổ đông và các bên liên quan. Tác giả kỳ vọng rằng, NC này sẽ lấp đầy khoảng trống trong LT hiện tại và cung cấp góc nhìn sâu sắc hơn về sự ảnh hưởng của các nhân tố như cấu trúc sở hữu vốn, quản trị CT, đặc điểm tài chính và môi trường kinh doanh tác động đến việc áp dụng TTKT. Bên cạnh đó, TTKT còn hỗ trợ quyết định quản 5 lý và điều hành, cụ thể: TTKT không chỉ quan trọng với các NQL DN mà còn giúp các cơ quan quản lý đưa ra các quy định phù hợp.
NC các nhân tố ảnh hưởng đến TTKT sẽ cung cấp bằng chứng hữu ích cho việc cải thiện các chính sách quản trị CT và chính sách KT.