Chương 1 đã giới thiệu những vấn đề của đề tài nghiên cứu về tính cấp thiết của đề tài, đối tượng nghiên cứu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn NHTM để vay vốn mua nhà ở của KHCN trên địa bàn huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng trình bày những đóng góp của đề tài đến sự phát triển của các ngân hàng và cấu trúc tổng thể của bài khóa luận. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm cho vay KHCN Tín dụng là khoản tiền mà khách hàng doanh nghiệp và cá nhân phải trả lại (b2) (a2) (f5) (b2) (b2) (b2) (b2) cho ngân hàng.
Ngân hàng thường yêu cầu người vay vốn cung cấp tài sản đảm bảo (b2) (b2) (d1) (b2) (b2) (b2) (b 2) hoặc sự bảo lãnh về tài chính của bên thứ 3 để đảm bảo khoản tín dụng. (b2) (b2) (b2) (b2) (b2) Theo (khoản 7 điều 4, luật các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024) cho vay là phương thức cung cấp tín dụng thông qua việc bên cho (f3) (b4) (g4) (s3) (gd3) (d j3) (fh3) (dh5) vay chuyển giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào (he4) (h1) (hư3) (dh7) (hf6) (e6) (j5) mục đích cụ thể, trong một thời gian cố định, theo và có nghĩa vụ phải hoàn trả đầy (j4) (d5) (a7) (g2) (m4) đủ tiền gốc , lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay. Phân loại cho vay KHCN 2. Theo hình thức có đảm bảo về cho vay Khoản vay không đảm bảo ( vay tín chấp ) là loại hình cấp tín dụng không có tài sản để đảm bảo mà chỉ dựa vào sự tín nhiệm của ngân hàng đối với người vay để được cấp tín dụng.
Khoản vay bảo đảm là hình thức cấp tín dụng mà người vay phải sử dụng tài sản có đầy đủ giấy tờ về mặt pháp lý để chứng tỏ thuộc quyền sở hữu của bản thân để được ngân hàng duyệt hồ sơ cấp tín dụng. Trong trường hợp người vay mất khả năng chi trả khoản tín dụng, ngân hàng sẽ tiến hành tịch thu tài sản để thu hồi nợ. Theo thời gian của gói cho vay - Khoản vay vốn ngắn hạn là các khoản vay được cấp với thời hạn tối đa là 1 năm. - Khoản vay vốn trung hạn là các khoản vay được cấp với thời hạn dài hơn tín dụng ngắn hạn, cụ thể là tối đa là 5 năm.
7 - Khoản vay vốn dài hạn hạn là các khoản vay được cấp với thời hạn lâu nhất trong 3 loạn tín dụng với mức thời gian là trên 5 năm. Theo nhu cầu của khách hàng Nhu cầu là sự kích thích về mặt tâm – sinh lý của khách hàng. Đôi khi, khách hàng lại không có đủ tiêu chuẩn về mặt tài chính để thực hiện các nguyện vọng đó nên thường họ sẽ cần ngân hàng đáp ứng để hỗ trợ về mặt tài chính để thực hiện theo nhiều mục đích khác nhau như: • Cho vay tiêu dùng • Cho vay sản xuất kinh doanh • Cho vay mua nhà đất • Cho vay du học … 2. Đặc điểm cho vay KHCN 2.
Quy mô khoản vay có xu hướng nhỏ hơn nhưng số lượng khoản vay lại lớn hơn Theo Herstein & Zviling (2010), mục đích chính của việc vay vốn ở KHCN là do: - Mở rộng vốn lưu động. Thông thường, quy mô của hoạt động sản xuất kinh doanh này không lớn và đa số khách hàng đến ngân hàng đều đã có sẵn một lượng vốn nhỏ nên chỉ cần giải quyết được những vấn đề nhỏ trong hoạt động sản xuất hoặc kinh doanh. - Đáp ứng nhu cầu hàng ngày của người tiêu dùng. Các khoản vay cá nhân nhằm mục đích này trực tiếp trả chi phí sinh hoạt, bao gồm mua nhà, ô tô, thiết bị, xây dựng, sửa chữa và du học.
Đây đều là những khoản vay nhỏ nhưng vì khách hàng đều là cá nhân xã hội, từ người có thu nhập cao, người có thu nhập trung bình và cả người có thu nhập thấp nên nhu cầu rất đa dạng. Tín dụng bao gồm nhiều loại khác nhau. Tín dụng cá nhân mang nhiều chi phí đắt đỏ Vì số lượng đông đảo và phân bố rộng rãi của khách hàng cá nhân, các NHTM thường phải đầu tư một khoản tiền lớn vào việc mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng (af4) cáo, tiếp thị và các hoạt động khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận khách hàng ở nhiều khu vực khác nhau. Việc phát triển đầy đủ nguồn nhân lực, từ việc tiếp nhận nhu cầu, thẩm định đến quyết định cho vay, thanh toán, thu nợ và các chi phí liên quan như phí quản lý, tiền điện, tiền điện thoại,.
là cần thiết. Do đó, lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp. Đối với các khoản vay cá nhân, ngân hàng thường phải chi một lượng tiền đáng kể vào việc thẩm định và phê duyệt vì thông tin về danh tính, lý lịch, tình hình tài chính của khách hàng thường không đầy đủ và khó thu thập. Độ tin cậy của khách hàng là nền tảng để cấp tín dụng Nhằm giảm rủi ro trong tín dụng, sự uy tín của khách hàng là yếu tố then chốt để các ngân hàng dựa vào làm nền tảng để duyệt hồ sơ tín dụng cho các khách hàng.
Độ tin cậy này được xem xét thông qua nhiều tiêu chí đánh giá như lịch sử tín dụng, điểm tín dụng, tài chính cá nhân,… nhằm làm rõ uy tín và khả năng trả nợ của khách hàng. Trong trường hợp các khách hàng có độ tin cậy cao thì ngân hàng thường cung cấp cho tệp khách hàng này những ưu đãi và lãi suất thấp hơn so với những tệp khách hàng còn lại. Rủi ro trong các khoản cấp tín dụng Mặc dù quá trình duyệt hồ sơ cấp tín dụng của ngân hàng được trải qua nhiều công đoạn xem xét và đánh giá gắt gao từ các hội đồng xét duyệt, tuy nhiên, ngân hàng vẫn không thể tránh khỏi những rủi ro từ việc cấp tín dụng cho khách hàng. Giải nghĩa điều này là do những tình huống không mong đợi như khách hàng mất khả năng thanh toán do thất nghiệp hoặc việc sản xuất kinh doanh thua lỗ dẫn đến phá sản.
Do đó, các ngân hàng thường ưu tiên những khoản cấp tín dụng đi kèm với tài sản thế chấp nhằm với mục đích giảm thiểu rủi ro tín dụng và duy trì sự ổn định tài chính của ngân hàng. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay vốn mua nhà ở 9 2. Thương hiệu và hình ảnh của ngân hàng: Hình ảnh của ngân hàng được xây dựng qua các nhân tố như truyền thông, quảng cáo, trải nghiệm khách hàng và những đánh giá từ cộng đồng. Khi thương hiệu và hình ảnh của ngân hàng được xây dựng một cách hiệu quả, nó không chỉ giúp thu hút nhiều khách hàng vay vốn mua nhà hơn mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của ngân hàng.
Thời gian giao dịch: Khi khách hàng quyết định vay vốn để mua nhà, họ mong muốn quy trình này diễn ra nhanh chóng và hiệu quả. Thời gian xử lý hồ sơ, thẩm định và giải ngân càng ngắn càng làm tăng sự hài lòng và tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng. Một quy trình nhanh chóng, minh bạch và hiệu quả sẽ giúp ngân hàng thu hút và giữ chân nhiều khách hàng hơn trong lĩnh vực cho vay mua nhà. Chi phí vay và lãi suất: Khi vay vốn mua nhà ở, khách hàng luôn quan tâm đến tổng chi phí phải trả cho khoản vay, bao gồm lãi suất và các khoản phí liên quan.
Lãi suất cạnh tranh và chi phí vay hợp lý sẽ giúp ngân hàng thu hút nhiều khách hàng hơn. Vì vậy, ngân hàng có lãi suất cạnh tranh và chi phí vay hợp lý sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn, đồng thời xây dựng được hình ảnh uy tín và chuyên nghiệp trong lĩnh vực cho vay mua nhà. Chất lượng dịch vụ: Quy trình này bao gồm nhiều bước, từ tiếp nhận hồ sơ vay, thẩm định tín dụng, đến giải ngân và hỗ trợ sau vay. Chất lượng dịch vụ được đo lường qua nhiều tiêu chí như tốc độ xử lý hồ sơ, sự minh bạch trong thông tin, sự tư vấn chuyên nghiệp, và thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng.
Điều này góp phần thúc đẩy nhu cầu mua nhà, từ đó kích thích sự phát triển của thị trường bất động sản. Thời gian vay và số tiền trả nợ định kỳ: Một thời hạn vay linh hoạt và số tiền trả nợ định kỳ hợp lý giúp khách hàng cảm thấy thoải mái và dễ dàng hơn trong việc quản lý tài chính cá nhân. Đồng thời, số tiền trả nợ định kỳ cần được thiết kế sao cho phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng, tránh tình trạng quá tải tài chính dẫn đến nợ xấu. Khả năng phục vụ: Bao gồm các hệ thống quản lý thông tin, các nền tảng giao dịch trực tuyến, ứng dụng di động, trí tuệ nhân tạo, và dữ liệu lớn (big data) có tác động sâu sắc đến toàn bộ quy trình và trải nghiệm của khách hàng.
Nhờ đó, hoạt động cho vay vốn mua nhà ở trở nên nhanh chóng, thuận tiện và an toàn hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản. Thuyết hành vi người tiêu dùng của Kotler (2017) Theo Kotler và cộng sự (2017) giải thích hành vi người tiêu dùng bằng cách nhấn mạnh các thành phần chính mà người tiêu dùng sử dụng thu nhập của họ để chi tiêu. Năm giai đoạn của mô hình hành vi người tiêu dùng được mô tả chi tiết là nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các lựa chọn, quyết định mua hàng và hành vi sau mua hàng. Giai đoạn nhận thức: Để thực hiện quá trình tiêu thụ cần có sự nảy sinh về nhu cầu tiêu thụ ở mỗi cá nhân.
Hiện tượng này được diễn ra bởi sự kích thích về mặt tâm – sinh lý của con người và sự kích thích này có thể được phát sinh từ các yếu tố nội lực hoặc ngoại lực như biển quảng cáo hoặc cuộc thảo luận tác động trực tiếp. Mỗi nhu cầu nảy sinh ở mỗi khách hàng là khác biệt với các khách hàng khác; Doanh nghiệp phải hiểu rõ nhu cầu bên trong cũng như bên ngoài của khách hàng để có thể đưa ra những sản phẩm phù hợp nhất với từng khách hàng riêng lẻ. Giai đoạn tìm kiếm thông tin: Nếu nhu cầu của người tiêu dùng là cấp thiết và có một sản phẩm đáp ứng nhu cầu đó ở gần, thì họ có khả năng sẽ mua ngay sản phẩm đó.