Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển logistics cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích các nhân tố chính ảnh hưởng đến phát triển logistics cho doanh nghiệp FDI tại Việt Nam như hạ tầng, nhân lực, công nghệ.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

265
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của logistics trong doanh nghiệp FDI

Logistics đóng vai trò critical trong hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. Phát triển logistics không chỉ giúp tối ưu hóa chi phí vận chuyển mà còn nâng cao hiệu suất chuỗi cung ứng toàn bộ. Các nhân tố ảnh hưởng logistics bao gồm cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghệ và môi trường kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất toàn cầu, phát triển hệ thống logistics trở nên thiết yếu để doanh nghiệp FDI duy trì khả năng cạnh tranh. Nghiên cứu từ Đại học Kinh tế Quốc dân cho thấy logistics là yếu tố quyết định sự thành công của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

1.1. Định nghĩa logistics cho doanh nghiệp FDI

Logistics là tập hợp các hoạt động quản lý dòng hàng hóa từ nhà cung cấp đến khách hàng cuối cùng. Đối với doanh nghiệp FDI, logistics bao gồm quản lý kho bãi, vận chuyển, phân phối, và xử lý hàng tồn kho. Hệ thống logistics hiện đại giúp tối ưu chi phí vận hành và nâng cao chất lượng dịch vụ.

1.2. Vai trò của logistics trong chuỗi cung ứng

Phát triển logistics là nền tảng cho chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp FDI. Logistics hiệu quả giúp giảm thời gian giao hàng, tăng độ tin cậy, và cải thiện mối quan hệ với đối tác. Các doanh nghiệp FDI phụ thuộc vào hạ tầng logistics chất lượng để duy trì lợi thế cạnh tranh.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển logistics

Theo luận án tiến sĩ của Vũ Quỳnh Vân, có nhiều nhân tố ảnh hưởng logistics đối với doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. Cơ sở hạ tầng logistics bao gồm các cảng biển, sân bay, đường bộ và kho bãi hiện đại. Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt, đặc biệt là những chuyên gia logistics giàu kinh nghiệm. Công nghệ thông tin trong quản lý logistics giúp tăng hiệu suất hoạt động. Ngoài ra, môi trường kinh tế và thể chế cũng tạo điều kiện thuận lợi hoặc trở ngại cho phát triển logistics. Năng lực động của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics quyết định khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.

2.1. Cơ sở hạ tầng logistics và vận tải

Cơ sở hạ tầng là yếu tố nền tảng cho phát triển logistics. Việt Nam có nhiều lợi thế địa lý với cảng biển chiến lược, nhưng vẫn cần cải thiện chất lượng các kho bãi, đường cao tốc, và cảng hàng không. Đầu tư vào hạ tầng giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian giao hàng.

2.2. Công nghệ và trình độ tự động hóa

Trình độ công nghệ trong logistics ngày càng quan trọng với sự phát triển của tự động hóa và AI. Các doanh nghiệp FDI cần hệ thống quản lý kho bãi tự động, phần mềm theo dõi hàng hóa real-time. Công nghệ blockchain giúp tăng tính minh bạch và bảo mật trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

III. Tình hình phát triển logistics tại Việt Nam

Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn cho đầu tư FDI nhờ vị trí địa lý chiến lược và chi phí lao động thấp. Tuy nhiên, phát triển logistics cho doanh nghiệp FDI vẫn gặp những thách thức. Hạ tầng logistics chưa đồng bộ, đặc biệt ở các khu vực ngoài thành phố lớn. Chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics còn hạn chế, thiếu những chuyên gia cấp cao. Môi trường kinh tế có dấu hiệu cải thiện nhưng vẫn cần những cải cách thể chế sâu hơn. Năng lực của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics tăng lên nhưng vẫn tập trung chủ yếu vào các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM.

3.1. Thực trạng cơ sở hạ tầng hiện tại

Hạ tầng logistics Việt Nam có cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Cảng Cát Lái, Cái Mép, và các cảng biển khác phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, kho bãi chưa đủ hiện đại, chi phí lưu trữ vẫn cao. Đường bộ, đường sắt cần tiếp tục nâng cấp để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp FDI.

3.2. Những thách thức trong phát triển logistics

Thách thức chính bao gồm thiếu hụt nhân lực chuyên môn, chi phí logistics cao so với các nước trong khu vực. Thể chế chưa hoàn thiện, quy trình hải quan phức tạp làm chậm giao nhận hàng hóa. Dịch vụ logistics chưa tích hợp đầy đủ, các doanh nghiệp vẫn phải hợp tác với nhiều nhà cung cấp khác nhau.

IV. Giải pháp phát triển logistics cho doanh nghiệp FDI

Để phát triển logistics cho doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, cần có chiến lược toàn diện. Thứ nhất, đầu tư hạ tầng là ưu tiên hàng đầu, bao gồm nâng cấp cảng biển, sân bay, và mạng lưới đường bộ. Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực logistics thông qua các trường đại học và chương trình đào tạo chuyên biệt. Thứ ba, ứng dụng công nghệ tiên tiến như IoT, AI, và blockchain trong quản lý logistics. Thứ tư, cải cách thể chế để đơn giản hóa quy trình hải quan, thủ tục hành chính. Thứ năm, khuyến khích hợp tác giữa các doanh nghiệp FDI và các nhà cung cấp dịch vụ logistics địa phương để tạo ra những giải pháp tích hợp.

4.1. Chiến lược đầu tư hạ tầng và công nghệ

Đầu tư hạ tầng cần tập trung vào các khu công nghiệp có mật độ doanh nghiệp FDI cao. Hệ thống quản lý logistics tự động giúp nâng cao hiệu suất. Sử dụng công nghệ 5G và IoT để kết nối các điểm logistics trong chuỗi cung ứng. Xây dựng trung tâm logistics khu vực tích hợp nhiều dịch vụ.

4.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Chương trình đào tạo chuyên ngành logistics cần được mở rộng ở các trường đại học. Tạo các khoá học bồi dưỡng cho nhân viên hiện tại về quản lý logistics hiện đại. Tuyển dụng và giữ chân các chuyên gia logistics quốc tế. Xây dựng nền tảng sự nghiệp hấp dẫn cho lao động trẻ.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN LOGISTICS CHO CÁC DOANH NGHIỆP FDI 1. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển logistics Đã có nhiều nghiên cứu về logistics, theo đó những khái niệm về logistics đã có nhiều sự thay đổi trong những năm qua. Theo Christopher (1998) “Logistic là quá trình quản lý chiến lược việc mua sắm, di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, bộ phận và hàng tồn kho thành phẩm và luồng thông tin liên quan thông qua tổ chức và các kênh tiếp thị của tổ chức”. Là kết quả của quá trình phát triển về logistics, Stock và Lambert (2001) cho rằng logistics không còn chỉ thực hiện quá trình xử lý và vận chuyển mà còn bao gồm một loạt các hoạt động, chẳng hạn như giao tiếp, dịch vụ, địa phương hóa, logistics ngược và lập kế hoạch về hoạt động thương mại và sản xuất.

Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến phát triển logistics tập trung xoay quanh đối tượng nghiên cứu là hệ thống logistics và dịch vụ logistics của một quốc gia hoặc một khu vực như ASEAN, EU. Kauppinen và Lindqvist (2006) đã chỉ ra các yếu tố chính để cải thiện hệ thống logistics hiện tại là những thể chế, tính hội nhập, cơ sở hạ tầng và yếu tố con người. Ngoài cơ sở hạ tầng logistics, Banomyong (2008) đã đưa ra 3 yếu tố bổ sung cho việc đánh giá phát triển hệ thống logistics quốc gia, đó là mối quan hệ giữa người gửi hàng, người nhận hàng, bên cung cấp dịch vụ và thể chế. Theo đó, tác giả đã tập trung hơn nữa về mối liên hệ giữa các bên cũng như các chiến lược kinh doanh nhằm phát huy việc di chuyển hàng hóa trong cơ sở hạ tầng hiện tại của hệ thống logistics quốc gia.

Fechner (2010) cũng lưu ý rằng sự phát triển của logistics quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở hạ tầng logistics, được hiểu là hệ thống đường bộ, đường hàng không, đường biển và mạng lưới viễn thông trong một khu vực, địa phương nhất định. Các điểm cơ sở có vai trò là điểm ra hoặc vào để vận chuyển hàng hóa. Nghiên cứu về phát triển hệ thống logistics, Yean và Das (2016) chỉ ra rằng Việt Nam đã phải chịu đựng cơ sở hạ tầng kém phát triển, do đó chi phí logistics cao, giảm khả năng cạnh tranh trong ngành logistics, khó khăn trong việc điều phối thực thi chính sách và thiếu các chuyên gia được đào tạo. Lu và Lin (2012) đã so sánh năng lực logistics giữa các quốc gia của Đài Loan, Việt Nam và Malaysia; từ đó chỉ ra rằng tham nhũng và phát triển hệ thống giao thông nội địa là những yếu tố quan trọng mà Việt Nam cần được cải thiện để hệ thống logistics đảm bảo phát triển logistics tại Việt Nam.

Banomyong và cộng sự (2015) cũng nghiên cứu về hệ thống logistics quốc gia của Việt Nam nhưng tập trung vào các yếu tố chủ yếu là cơ sở hạ tầng, phía cung cấp dịch vụ, bên gửi hàng - bên nhận hàng và khung thể chế. 8 Hơn nữa, Yean và Das (2016) đã nghiên cứu về hội nhập logistics, quy hoạch tổng thể kết nối và kế hoạch giao thông chiến lược là những yếu tố chính mà Việt Nam và các nước ASEAN cần thực hiện. Năm 2017, báo cáo của Bộ Công Thương Việt Nam đã phân tích 7 vấn đề chính của logistics Việt Nam trong bối cảnh hiện tại, bao gồm các yếu tố: công nghệ, nguồn nhân lực, dịch vụ logistics, viễn thông, cơ sở hạ tầng logistics, hợp tác quốc tế và logistics trong thương mại và sản xuất. Trong bản báo cáo cũng nêu bật nhiều vấn đề còn tồn tại mà Việt Nam cần giải quyết và đề xuất các hướng liên quan đến hoạt động logistics cốt lõi để phát triển hệ thống logistics quốc gia nói chung và dịch vụ logisstic nói riêng.

Karim và cộng sự (2018) đã chỉ ra vai trò của hoạt động kho bãi trong việc cải thiện chỉ số hoạt động logistics (LPI) của Malaysia. Những phát hiện của tác giả này cho thấy rằng “năng suất lao động, việc sử dụng nhà kho và việc sử dụng không gian hàng tồn kho là ba trong số mười yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến mức năng suất nhà kho trong lĩnh vực dịch vụ logistics của Malaysia”. Nghiên cứu của Tian và cộng sự (2019) cũng có điểm tương đồng với các tác giả tiền nhiệm thông qua nghiên cứu đã chỉ ra 4 yếu tố ảnh hưởng đến phát triển logistics: cơ sở hạ tầng, nguồn thông tin, trình độ phát triển kinh tế, nguồn nhân lực. Tập trung vào dịch vụ logistics, Samaras (2000) đã nghiên cứu về logistics đầu vào qua các yếu tố cải thiện và nâng cao lợi thế cạnh tranh dịch vụ ngành logistics.

Bằng việc khảo sát 80 doanh nghiệp kinh doanh trong dịch vụ logistics, nghiên cứu đã chỉ ra chi phí, tốc độ giao hàng và lợi thế của khách hàng có mối liên hệ mật thiết với chất lượng dịch vụ logistics. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò của việc kiểm soát dịch vụ logistics đầu vào đối với lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp. Trong số các nghiên cứu về logistics Việt Nam của các tác giả nước ngoài, Viện Nghiên cứu Nomura (Nhật Bản) công bố năm 2002 là một trong những nghiên cứu phổ biến nhất. Nghiên cứu của Viện Nomura đã chỉ ra các nhà cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện tại chỉ mới đáp ứng được 25% nhu cầu cơ bản của thị trường logistics.

Nghiên cứu này cũng đưa ra nhận định giá cả dịch vụ logistics rẻ là một lợi thế của Việt Nam, nhưng chất lượng dịch vụ không đảm bảo, sự kém phát triển của các công ty giao nhận địa phương chính là những khó khăn lớn cho thị trường logistics trong nước. Đối với các học giả trong nước, điển hình là nghiên cứu của Đặng Đình Đào (2010), Đặng Đình Đào (2014). Một nhận thấy thực tế là tại Việt Nam các doanh nghiệp logistics chưa đáp ứng được nhu cầu dịch vụ hiện chỉ, mới chỉ phục vụ được khoảng một phần tư nhu cầu thị trường, và các dịch vụ vẫn chỉ là từng phần trong chuỗi cung ứng dịch vụ mà chưa thực sự khai thác được hết tất cả các công đoạn của chuỗi dịch vụ này. Ngành Logistics của Việt Nam mới chỉ được phát triển trong những giai đoạn gần 9 đây, các dịch vụ Logisstic chưa được chuyên nghiệp, bài bản hay chất lượng chưa được đánh giá cao.

Nguyên nhân chính của vấn đề này từ nhiều lý do, trong đó có thể kể đến sự không đồng bộ và chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng và công tác quy hoạch vẫn chưa đáp ứng được sự phát triển mạnh mẽ dịch vụ này ở Việt Nam. Trong khi đó, các công ty vận tải tại Việt Nam quy mô chưa lớn, chưa có khả năng huy động vốn và công nghệ trong lĩnh vực nãy. Do đó, Việt Nam chưa thể phát triển đồng bộ dịch vụ Logistics và vì vậy, cần nâng cao năng lực cạnh tranh của chính các doanh nghiệp Logistics nội địa và thúc đẩy quá trình tham gia vào chuỗi cung ứng trong khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra vấn đề về quản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa chuỗi cung ứng - logistics và chuỗi cung ứng - chuỗi giá trị.

Đây được coi là những vấn đề cơ bản trong sự phát triển dịch vụ logistics của lĩnh vực Logistics của Việt Nam. Để có thể có được nền tảng này thì phải phát triển, cơ sở hạ tầng “phần cứng”, “phần mềm”. Điều đó đặt ra cần phải nhận dạng được những hạn chế, nguyên nhân của ngành logistics để có những giải pháp cụ thể và tiến hành đồng bộ các biện pháp phù hợp nhằm đấy mạnh sự phát triển của ngành Logistics trong những năm tiếp theo và nâng cao sức cạnh tranh, hiệu quả kinh tế, phát triển bền vững của đất nước. Vẫn tiếp tục vấn đề này, Đặng Đình Đào (2017) đã tiếp cận vai trò của hệ thống logistics nói chung và dịch vụ logistics biển nói riêng đối với phát triển kinh tế xã hội và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển đảo Việt Nam đến năm 2020.

Với vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ với lợi thế đường biển và cảng biển là điểm giao thương với khu vực và thế giới thì phát trirn Logistics có vài trò quan trọng. Đối với Việt Nam và cộng đồng AEC thì phát triển hệ thống dịch vụ logistics biển có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm góp phần vào tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của mỗi quốc gia và khu vực. Trịnh Thị Thu Hương (2017) cũng cho rằng: “hầu hết các doanh nghiệp logistics của Việt Nam mới đóng vai trò như những nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các công ty logistics nước ngoài. Chưa có doanh nghiệp nào đủ sức tổ chức, điều hành toàn bộ quy trình hoạt động logistics.

Do vậy, các doanh nghiệp này thực chất mới chỉ hoạt động dưới hình thức những nhà cung cấp dịch vụ cấp 2, thậm chí là cấp 3, cấp 4 cho các đối tác nước ngoài có mạng điều hành dịch vụ toàn cầu. Với quy mô nhỏ lẻ, thiếu chuyên nghiệp, tính liên kết kém và chỉ dựa vào năng lực sẵn có nên khả năng cạnh tranh thấp, thậm chí cạnh tranh không lành mạnh, chưa có sự phối hợp giữa các phương thức vận tải, giữa vận tải - thương mại với các ngành dịch vụ khác trong chuỗi cung ứng liên hoàn, chất lượng nguồn nhân lực yếu và thiếu, cơ sở hạ tầng thông tin kém phát triển. Những khó khăn này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển mà còn đặt 10 các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước sự cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà khi hội nhập của nền kinh tế ngày càng sâu rộng”. Vì thế, nghiên cứu cũng chỉ ra phát triển logisstic cần gắn liền với phát triển giao thông càng biển, tuy nhiên cần có những chính sách, quy định thống nhất, đông bộ từ từ trung ương đến địa phương.

Bên cạnh đó cần có sự kết hợp của các cơ quan bộ ngành, theo chiều dọc, chiều ngang nhăm tạo ra được cơ chế cụ thể để đạt hiệu quả tốt nhất. Một số cách tiếp cận nghiên cứu khác có thể nói đến Đặng Thị Thúy Hồng (2018) đề cập đến vấn đề nhân lực cho ngành logistics. Tác giả này cho rằng hiện tại ngoài vấn đề cơ sở vật chất của các doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu thì đào tạo nhân lực logistics đang là rào cản cho hội nhập và phát triển ngành logistics của Việt Nam. Nguồn nhân lực phục vụ cho ngành logistics đang yếu một cách trầm trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ