Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Khung lý thuyết về khả năng sinh lời và các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến khả năng sinh lời Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phát hiện và phân tích dữ liệu Chương 5: Thảo luận và khuyến nghị 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI 2. Cơ sở lý luận về khả năng sinh lời 2. Định nghĩa và vai trò của khả năng sinh lời Định nghĩa về khả năng sinh lời Khả năng sinh lời là khái niệm phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp. Nói chung, khả năng sinh lời của một công ty được tính bằng cách chia lợi nhuận cho tổng tài sản được sử dụng, số vốn dài hạn hoặc số lượng nhân viên.
Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả và điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Bên cạnh đó, khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, và được thể hiện bằng các chỉ tiêu trên phương tiện. Khả năng sinh lời có thể được áp dụng cho một hoặc một bộ tài sản.
Vai trò của lợi nhuận: Lợi nhuận đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. (i) Đối với doanh nghiệp Điều đầu tiên một doanh nghiệp hoạt động trong thị trường là lợi nhuận. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh hiệu quả của quá trình kinh doanh, đồng thời là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ tồn tại và phát triển khi làm ăn có lãi, nếu hoạt động không hiệu quả, doanh thu không đủ bù chi phí sẽ dẫn đến bị đào thải hoặc phá sản.
Đặc biệt trên thị trường có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì lợi nhuận là yếu tố vô cùng quan trọng. Khả năng sinh lời ảnh hưởng đến mọi hoạt động của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính- một điều kiện quan trọng đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Nếu hoạt động kinh doanh có hiệu quả và lợi nhuận cao thì khả năng thanh toán sẽ lớn.
Do đó doanh nghiệp có thể trả được hết các khoản nợ đến hạn và ngược lại. Ngoài ra, lợi nhuận cũng là yếu tố đảm bảo tái sản xuất mở rộng. Theo Nguyen (2010), hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi sẽ đem lại cho doanh 8 nghiệp khoản lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, là cơ sở để bổ sung vốn tái đầu tư và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật thông qua đổi mới thiết bị. Từ đó giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động, lấy đó làm cơ sở để doanh nghiệp phát triển ổn định trên thị trường và giúp doanh nghiệp dễ dàng vay vốn bên ngoài.
Chỉ tiêu về khả năng sinh lời còn là cơ sở để đánh giá năng lực nhân sự, tài chính cũng như quản lý điều hành kinh doanh của doanh nghiệp. Khả năng sinh lời cao giúp doanh nghiệp có điều kiện nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động, tạo hứng thú kích thích sự sáng tạo và phát huy tối đa khả năng của người lao động trong doanh nghiệp,là cơ sở cho những bước phát triển tiếp theo. (ii) Đối với nền kinh tế Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh hiệu quả sản xuất của nền kinh tế. Khi nền kinh tế đất nước phát triển sẽ tạo môi trường lý tưởng cho các doanh nghiệp có điều kiện phát triển hơn.
Thông qua lợi nhuận của doanh nghiệp, chính phủ thu thuế thu nhập doanh nghiệp để tăng tích lũy cho xã hội, góp phần xây dựng công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. Thuế thu nhập doanh nghiệp đánh vào lợi nhuận doanh nghiệp thu được trong kỳ, do đó doanh nghiệp có lợi nhuận càng cao thì nhà nước thu được càng nhiều thuế. Đó là nguồn tài chính để nhà nước tiến hành tái sản xuất mở rộng, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng cũng như nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tỷ suất sinh lời Theo Pham and Nguyen (2015), tỷ suất sinh lời là một loại thước đo tài chính được sử dụng để đánh giá khả năng tạo ra thu nhập của một doanh nghiệp so với doanh thu, chi phí hoạt động, tài sản trong bảng cân đối kế toán và vốn chủ sở hữu của cổ đông theo thời gian thông qua dữ liệu từ một thời điểm cụ thể.
Hầu hết các công ty thường tìm kiếm một tỷ lệ hoặc giá trị cao, vì điều này thường có nghĩa doanh nghiệp đang hoạt động tốt bằng cách tạo ra doanh thu, lợi nhuận và dòng tiền. Các tỷ số này hữu ích nhất khi chúng được phân tích so với các công ty tương tự hoặc so với các kỳ trước. Phân tích khả năng sinh lời là một phần của hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), cho phép quản trị viên dự báo khả năng sinh lời của một đề xuất hoặc tối ưu 9 hóa lợi nhuận của một dự án hiện có. Phân tích khả năng sinh lời có thể dự đoán doanh số và lợi nhuận tiềm năng cụ thể cho các khía cạnh của thị trường như nhóm tuổi của khách hàng, địa lý hoặc loại sản phẩm.
Có nhiều tỷ suất sinh lời khác nhau được các công ty sử dụng để cung cấp những thông tin về tình trạng tài chính và hoạt động của doanh nghiệp. Để phân tích tỷ lệ phần trăm doanh thu của công ty bao gồm lợi nhuận, yếu tố trái ngược với chi phí và chi phí kinh doanh, người ta thường phân tích các tiêu chí sau: Biên lợi nhuận = Thu nhập ròng / Doanh thu thuần Tỷ lệ phần trăm này cho biết công ty đã tạo ra bao nhiêu lợi nhuận cho mỗi đô la bán hàng. Việc xác định tỷ suất lợi nhuận có thể giúp doanh nghiệp xác định chi tiêu thặng dư hoặc các sản phẩm và thủ tục kinh doanh kém hiệu quả. Đó là dữ liệu hữu ích khi đánh giá cách một doanh nghiệp phát triển và mở rộng.
Ngoài ra, việc quan tâm tới tỷ suất lợi nhuận sẽ giúp công ty xác định các vấn đề mà công ty có thể gặp phải. Ví dụ, nếu tỷ suất lợi nhuận nhỏ có thể dẫn tới một số sai lầm về giá cả, các vấn đề về quản lý chi phí hoặc các vấn đề với kế toán. Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) = Thu nhập ròng / Tổng tài sản ROA là một tỷ số tài chính cho biết tỷ trọng lợi nhuận của công ty so với các nguồn lực chung của nó. ROA càng lớn thì quản trị càng tốt.
Nhưng trong việc so sánh các doanh nghiệp có cùng tỷ suất vốn hóa thì biện pháp này được thực hiện tốt nhất. Doanh nghiệp càng sử dụng nhiều vốn thì càng khó đạt được ROA cao. Ví dụ, một nhà sản xuất máy móc thiết bị quan trọng sẽ cần những nguồn lực rất quan trọng để thực hiện công việc của nó; điều tương tự cũng sẽ áp dụng cho nhà máy điện hoặc đường ống. Một nhà thiết kế thời trang, đại lý quảng cáo, công ty phần mềm hoặc nhà xuất bản có thể chỉ yêu cầu thiết bị vốn tối thiểu và điều này giúp tạo ra ROA cao.
Theo Tran (2006), các công ty sử dụng ROA nội bộ để theo dõi việc sử dụng tài sản theo thời gian, hiệu quả hoạt động của ngành và xem xét các hoạt động hoặc bộ phận khác nhau bằng cách so sánh chúng. Tuy nhiên, để đạt được điều này một cách hiệu quả, hệ thống kế toán phải được thiết lập để phân bổ chính xác tài sản cho các hoạt động khác nhau. ROA có thể báo hiệu cả hiệu quả sử dụng tài sản và vốn hóa thấp. Nếu ROA bắt đầu tăng so với toàn ngành và ban lãnh đạo không thể xác định 10 được đâu là hiệu quả đã tạo ra lợi nhuận, thì tín hiệu tích cực có thể là tiêu cực: đầu tư vào thiết bị mới có thể bị quá hạn.
Một cách sử dụng nội bộ phổ biến khác cho ROA là việc đánh giá lợi ích của việc đầu tư vào một hệ thống mới thay vì mở rộng hoạt động hiện có. Lựa chọn tốt nhất sẽ thúc đẩy năng suất và thu nhập cũng như giảm chi phí tài sản, dẫn đến tỷ lệ ROA nâng cao. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) = Thu nhập ròng / Tổng vốn chủ sở hữu của cổ đông ROE cho biết khả năng của công ty trong việc tạo ra lợi nhuận từ khoản đầu tư mà nó nhận được từ các cổ đông. Chỉ số này đặc biệt quan trọng đối với quan điểm của nhà đầu tư khi họ sử dụng nó để đánh giá mức độ hiệu quả của công ty sử dụng tiền đầu tư của mình để tạo thêm doanh thu.
Theo Trinh (2013), các nhà đầu tư thích các công ty có ROE lớn hơn. Tuy nhiên, điều này có thể được sử dụng làm tiêu chuẩn để lựa chọn cổ phiếu chỉ trong cùng một ngành. Mức lợi nhuận và doanh thu về cơ bản là khác nhau giữa các ngành. Các mức ROE có thể khác nhau ngay cả trong cùng một lĩnh vực nếu một công ty chọn chia cổ tức và không giữ lại lợi nhuận được tạo ra.
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp 2.1 Tỷ lệ nợ (DR) DR = Tổng nợ/Tổng tài sản DR là một tỷ số tài chính đánh giá mức độ đòn bẩy của công ty. Nói cách khác, DR cho biết số lượng tài sản mà công ty phải bán để trả hết các khoản nợ phải trả. Chia tổng nợ phải trả của công ty (bao gồm cả hiện tại và không dài hạn) cho tổng tài sản của công ty, chúng ta có thể tính được hệ số nợ. Có thể nói, tỷ lệ nợ là một trong những tỷ số rất đặc thù của ngành.
Nó cần được kiểm tra với các đối thủ cạnh tranh và cùng với các tỷ lệ khác như số lần lãi thu được. Vì các chủ nợ luôn lo lắng về việc hoàn trả, có thể nói hệ số nợ là hệ số khả năng thanh toán cơ bản của công ty. Tỷ lệ nợ sẽ tăng lên khi các công ty vay nhiều tiền hơn, điều này có thể dẫn việc các chủ nợ sẽ không thể cho họ vay tiền nữa. Tỷ lệ nợ thấp hơn thường cho thấy một doanh nghiệp ổn định hơn với tiềm năng trường tồn vì một công ty có tỷ lệ nợ thấp hơn cũng có tổng nợ thấp hơn.