CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp. Ngô Đình Giao.
NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội- 1997, trang 408 cho rằng: “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định, nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó” Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thể hiểu hiệu quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Theo giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh phần II – trường đại học Kinh tế Đà Nẵng – của PGS.TS Trương Bá Thanh và TS Trần Đình Khôi Nguyên thì hiệu quả được xem xét giữa mối quan hệ đầu ra là kết quả của doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm…) với đầu vào là các nguồn lực sử dụng (tài sản, vốn chủ sở hữu, nguồn nhân lực…). Như vậy, chỉ tiêu phân tích chung về hiệu quả cơ bản được tính như sau: Luan van 7 Đầu ra Hiệu quả hoạt động = Đầu vào Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thường được xem xét trên hai góc độ là hiệu quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động tài chính.
Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Có nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tác giả lựa chọn hai chỉ tiêu cơ bản là: Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) để nghiên cứu về hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp. Sở dĩ tác giả lựa chọn hai chỉ tiêu này là bởi vì: sự quan tâm của nhà quản lý, chủ đầu tư, khách hàng, đối tác.tới doanh nghiệp xét cho cùng đó là chỉ tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu lợi nhuận là chỉ tiêu số tuyệt đối không có ý nghĩa nhiều trong công tác phân tích, so sánh, thống kê.
Do vậy, lựa chọn các chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến lợi nhuận như: ROA, ROE, ROS sẽ có ý nghĩa so sánh hiệu quả hoạt động giữa các chủ thể khác nhau về thời gian, không gian. Điều này hoàn toàn đúng với các nghiên cứu trước đây, Theo thống kê của P. Skandalis (2010) về các nghiên cứu trước đây trong việc sử dụng các chỉ tiêu để đo lường hiệu quả hoạt động trong số 14 nghiên cứu về hiệu quả hoạt động thì có tới 13 nghiên cứu sử dụng các chỉ số liên quan đến khả năng sinh lời. Trong các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời trên để có thể phản ánh một cách toàn diện về khả năng tạo ra lợi nhuận từ tài sản hay từ nguồn vốn doanh nghiệp thì nổi trội hơn đó là hai chỉ tiêu được lựa chọn là ROA và ROE.
Hai chỉ tiêu này có thể phản ánh tổng quan kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp về hiệu quả sản xuất kinh doanh (ROA) và hiệu quả tài chính (ROE). Luan van 8 - Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) được xác định như sau: Lợi nhuận trước thuế (sau thuế) ROE = x 100% Tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng đầu tư vào tài sản thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (sau thuế ). Tỷ suất sinh lời tài sản có thể được viết lại theo phương trình Dupont như sau: Lợi nhuận trước thuế (sau thuế) Doanh thu thuần ROA = x x 100% Doanh thu thuần Tổng TS bình quân Hay ROA = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x Hiệu suất sử dụng tài sản Từ phương trình trên cho thấy tỷ suất sinh lời tài sản có mối quan hệ với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần và hiệu suất sử dụng tài sản; phát hiện sự khác biệt giữa các doanh nghiệp về định giá bán và quản trị tài sản. Tuy nhiên chỉ tiêu ROA chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh doanh vì lợi nhuận còn chịu tác động bởi chính sách tài trợ.
- Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) Hiệu quả tài chính là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời đồng vốn chủ sở hữu doanh nghiệp. Đó là mối quan tâm của chủ sở hữu của bất kỳ doanh nghiệp nào và sự tăng trưởng của nó qua thời gian là tiêu chí được hưởng đến cuối cùng của nhà đầu tư. Luan van 9 Chỉ tiêu này được xác định như sau: Lợi nhuận sau thuế ROE = x 100% Vốn chủ sở hữu bình quân Chỉ tiêu ROE phản ánh một trăm đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao thể hiện hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là càng lớn.
Tiếp cận theo quan điểm của Bied – Charreton (1920) dưới dạng khai triển phương trình Du-pont về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu như sau: Lợi nhuận Doanh thu Tổng TS trước thuế thuần bình quân ROE = x x x 100% Doanh thu Tổng TS Vốn CSH thuần bình quân bình quân Hay: Lợi nhuận Doanh thu trước thuế 1 thuần ROE = x x x 100% Doanh thu Tổng TS Tỷ suất tự thuần bình quân tài trợ Từ phương trình Dupont cho thấy mối liên hệ giữa tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) với tỷ suất sinh lời doanh thu và hiệu suất quản lý tài sản. Hay ROE và hiệu quả hoạt động kinh doanh có mối quan hệ với nhau. Ngoài ra, phương trình trên còn cho thấy mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính với chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp và cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP Như đã trình bày ở trên, hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp thường được xem xét trên hai góc độ là: hiệu quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả Luan van 10 hoạt động tài chính.
Hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp là một phạm trù rộng lớn và phức tạp cho nên số lượng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kể cả ngoài nước cũng như trong nước mặc dù khá nhiều song kết quả mang lại đồng nhất là không nhiều. Cũng vì tính chất phức tạp của nó mà hầu hết các nghiên cứu chỉ xem xét đến một trong hai mảng là nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh hoặc là hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp. Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của R. Tian (2007) về tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty, với quy mô nghiên cứu là 167 công ty ở Jordan trong khoảng thời gian từ năm 1989 đến năm 2003.
Bằng phương pháp hồi quy theo mô hình OLS, nghiên cứu cho thấy kết quả rủi ro, cấu trúc tài sản có mối quan hệ nghịch chiều tới ROA. Ngược lại quy mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp có mối quan hệ ảnh hưởng thuận chiều tới ROA. Nhân tố khả năng thanh toán không có ý nghĩa thống kê tới mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ROA của các doanh nghiệp. Nghiên cứu của Daniel Cîrciumaru, Marian Siminică, Nicu Marcu (2008) thuộc khoa kinh tế và quản trị kinh doanh của đại học Craiova – Romania về hiệu quả tài chính của 73 doanh nghiệp trong ngành công nghiệp của Romania.
Tiếp cận các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu theo quan điểm của Bied – Charreton về khai triển ROE theo phương trình Du-Pont, các tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của ba nhân tố là: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (lợi nhuận/doanh thu), hiệu suất sử dụng tài sản (doanh thu/tổng tài sản) và nhân tố đòn bẩy tài chính đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu ROE. Kết quả nghiên cứu trên 73 doanh nghiệp trong năm 2008 đã chỉ ra rằng: cả ba nhân tố này đều có ảnh hưởng thuận chiều đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, trong ba nhân tố ảnh hưởng này thì Luan van 11 đòn bẩy tài chính là nhân tố có ảnh hưởng nhưng không đáng kể đến biến độc lập (tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu). Một nghiên cứu khác của Camelia Burja (2011) về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của một doanh nghiệp trong ngành hóa chất Rumani sử dụng mô hình phân tích hồi quy bội với biến độc lập của nghiên cứu là tỷ suất sinh lời tài sản (ROA).
Dữ liệu được thu nhập từ báo cáo tài chính hằng năm của công ty này với khoảng thời gian 1999-2009. Kết quả nghiên cứu của Camelia Burja chỉ ra sự ảnh hưởng của cấu trúc tài chính (tỷ suất nợ và đòn bẩy tài chính), số vòng quay hàng tồn kho, số vòng quay nợ phải thu, tỷ lệ tài sản cố định và tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp tới ROA của doanh nghiệp này. Mà từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị doanh nghiệp nên chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng và kỹ thuật (tài sản cố định), cố gắng tiết kiệm nhằm cắt giảm tối thiểu các khoản chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa cấu trúc tài chính, tỷ trọng TSCĐ, số vòng quay hàng tồn kho và nợ phải thu với tỷ suất sinh lời tài sản cố định (ROA).
Tiêu biểu nhất trong các nghiên cứu phải kể đến là nghiên cứu thực nghiệm của Amdemikael Abera (2012) về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trên địa bàn Addis Ababa - Ethiopia, trong đó tác giả có nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời tài sản (ROA).