phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu 4 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1 Cơ sở lý luận về quản trị chuỗi cung ứng xanh Chƣơng 2 Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3 Thực trạng các nhân tố ảnh hƣởng đến ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng xanh tại các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô khu vực phía Bắc Việt Nam Chƣơng 4 Giải pháp ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng xanh tại xanh tại các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô khu vực phía Bắc Việt Nam 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG XANH 1.1 Khái quát về quản trị chuỗi cung ứng xanh 1.1 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng xanh Có rất nhiều định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng. Chúng ta có thể xem các định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng ở phần sau: Theo Viện quản trị cung ứng mô tả quản trị chuỗi cung ứng là việc thiết kế và quản lý các tiến trình xuyên suốt, tạo giá trị cho các tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng. Sự phát triển và tích hợp nguồn lực con ngƣời và công nghệ là nhân tố then chốt cho việc tích hợp chuỗi cung ứng thành công. Theo Hội đồng chuỗi cung ứng thì quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý cung và cầu, xác định nguồn nguyên vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn hàng và quản lý đơn hàng, phân phối qua các kênh và phân phối đến khách hàng cuối cùng.
Theo hội đồng quản trị hậu cần, một tổ chức phi lợi nhuận, thì quản trị chuỗi cung ứng là “…sự phối hợp chiến lƣợc và hệ thống các chức năng kinh doanh truyền thống và các sách lƣợc xuyên suốt các chức năng này trong một công ty cụ thể và giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng với mục đích cải thiện thành tích dài hạn của các công ty đơn lẻ và của cả chuỗi cung ứng”. Hau Lee và đồng tác giả Corey Billington trong bài báo nghiên cứu thì quản trị chuỗi cung ứng nhƣ là việc tích hợp các hoạt động xảy ra ở các cơ sở của mạng lƣới nhằm tạo ra nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng vào sản phẩm trung gian và sau đó đến sản phẩm hoàn thành cuối cùng, và phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối. Nguyễn Phúc Nguyên và TS. Lê Thị Minh Hằng “chuỗi cung ứng là tập hợp những phƣơng thức để tích hợp và sử dụng hiệu quả nhà cung cấp, nhà sản 11 xuất, nhà phân phối, nhà bán sỉ/bán lẻ nhằm phân phối hàng hóa đến đúng địa điểm, đúng lúc với đúng yêu cầu về chất lƣợng, số lƣợng, với mục tiêu giảm thiểu chi phí trên toàn chuỗi trong khi tối đa sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng” Tuy nhiên, Trong tình hình nền kinh tế thế giới đang chuyển dịch sang kinh tế xanh, việc phát triển chuỗi cung ứng xanh (GSC) đƣợc xem là hƣớng tiếp cận mới cho nhiều doanh nghiệp (DN) để nâng cao năng lực cạnh tranh cũng nhƣ vị thế cho mỗi thƣơng hiệu.
Chuỗi cung ứng xanh có thể đƣợc định nghĩa là quá trình sử dụng đầu vào thân thiện với môi trƣờng và biến các sản phẩm phụ của quá trình sử dụng thành thứ có thể cải thiện hay tái chế đƣợc trong môi trƣờng hiện tại. Quá trình này giúp cho các sản phẩm đầu ra và các sản phẩm phụ có thể đƣợc tái sử dụng khi kết thúc vòng đời và sẽ tạo ra chuỗi cung ứng bền vững để giảm chi phí và thân thiện với môi trƣờng. Những quốc gia, doanh nghiệp (DN) và nhà đầu tƣ có tầm nhìn xa đều có thể đi tiên phong và góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh hơn để góp phần vào quá trình phát triển bền vững. Trong những năm gần đây, cụm từ “chuỗi cung ứng xanh” đƣợc nhắc đến ngày càng nhiều.
Liên quan đến nó, nhiều thuật ngữ đã đƣợc sử dụng nhƣ “chuỗi cung ứng bền vững”, “chuỗi cung ứng xanh bền vững”, “chuỗi cung ứng môi trƣờng”, “chuỗi cung ứng sinh thái” Chuỗi cung ứng xanh bền vững có thể đƣợc định nghĩa là quá trình sử dụng đầu vào thân thiện với môi trƣờng và biến các sản phẩm phụ của quá trình sử dụng thành thứ có thể cải thiện đƣợc hoặc tái chế đƣợc trong môi trƣờng hiện tại. Quá trình này giúp cho các sản phẩm đầu ra và các sản phẩm phụ có thể đƣợc tái sử dụng khi kết thúc vòng đời của chúng, và nhƣ vậy tạo 12 ra một chuỗi cung ứng bền vững. Toàn bộ ý tƣởng về chuỗi cung ứng bền vững là để giảm chi phí và thân thiện với môi trƣờng (Penfield, 2008). Narasimhan & Carter (1998) định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng xanh liên quan đến sử dụng các phƣơng pháp giảm bớt các nguyên vật liệu bên cạnh việc tái chế và tái sử dụng Godfrey (1998) định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng xanh là việc doanh nghiệp (DN) thực hiện liên tục giám sát các tác động môi trƣờng của một chuỗi cung ứng và cải thiện kết quả của nó.
Beamon (1999) nhấn mạnh tầm quan trọng sự hợp tác với một công ty và định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng xanh là sử dụng chuỗi cung ứng giữa một công ty trung tâm và một công ty hợp tác, nhằm hỗ trợ các tổ chức quản lý sinh thái bí quyết sản xuất trong các công ty trung tâm và sự phát triển của kỹ thuật sản xuất sạch. Sarkis (2003) cũng định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng xanh nhƣ là một sự kết hợp các hoạt động của một công ty môi trƣờng và logistics thu hồi, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của vế sau. Johnny (2009) định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng xanh là quá trình thêm các yếu tố “xanh” vào chuỗi cung ứng hiện có, và tạo ra một chuỗi cung ứng thu hồi nhƣ là hoạt động xây dựng lại hệ thống một cách sáng tạo. Điều này không chỉ bao gồm việc theo đuổi hiệu quả mà còn có cả sự đổi mới trong chuỗi cung ứng liên quan đến chi phí, lợi nhuận, và môi trƣờng.
Testa và Iraldo (2010) trong một nghiên cứu đƣợc tiến hành tại hơn 4000 nhà máy ở 7 quốc gia đã phát hiện ra rằng mục tiêu “uy tín” và “đổi mới” đƣợc doanh nghiệp chú trọng hơn là mục tiêu “hiệu quả” khi áp dụng GSCM. Các nghiên cứu về động cơ thực hiện GSCM của Diabat và Govindan (2011 và 2014) sử dụng mô hình cấu trúc giải thích (Interpretive Structural Modelling – ISM trong ngành công nghiệp sản xuất nhôm và ngành dệt của Ấn Độ chỉ ra: việc áp dụng mua sắm xanh đã giúp doanh nghiệp đạt đƣợc vị 13 trí dẫn đầu. Bên cạnh đó, trong bài nghiên cứu về ngành công nghiệp công nghệ cao ở Đài Loan, Lo (2014) đã chỉ ra các hãng sản xuất ở hạ nguồn chuỗi cung ứng có xu hƣớng phản ứng chủ động với GSCM, nói cách khác, những hãng này sẵn sàng đƣa mục tiêu môi trƣờng vào chiến lƣợc phát triển lâu dài trong khi các hãng sản xuất ở thƣợng nguồn thƣờng chỉ đề ra những giải pháp nhất thời để ứng phó với các tiêu chuẩn môi trƣờng. Nhƣ vậy có thể thấy rõ việc tích hợp yếu tố “xanh” vào các khâu trong quy trình sản xuất từ lựa chọn nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, sản xuất, phân phối là một xu hƣớng tất yếu của quản trị doanh nghiệp.
Julie Rebecca Paquette, (2005) cũng đã chỉ ra nhiều lí do để các doanh nghiệp nên xanh hóa chuỗi cung ứng của mình. Tuy có nhiều khái niệm khác nhau đƣợc đƣa ra tùy thuộc vào góc độ của mỗi nghiên cứu, nhƣng tựu chung lại tất cả có đặc điểm chung là khẳng định chuỗi cung ứng xanh phải đảm bảo hai vấn để là giảm thiểu chi phí và thân thiện hơn với môi trƣờng. Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa của Bộ Công Thƣơng ( 2021) về Quản trị chuỗi cung ứng xanh nhƣ sau “ Quản trị chuỗi cung ứng xanh là sự kết hợp yếu tố môi trƣờng vào quản trị chuỗi cung ứng, bao gồm thiết kế sản phẩm, tìm kiếm và lựa chọn nguyên liệu, quy trình sản xuất, phân phối sản phẩm cuối cùng cho ngƣời tiêu dùng và quản lý cuối đời sản phẩm sau khi sử dụng nó” 1.2 Đặc điểm của quản trị chuỗi cung ứng xanh Quản trị chuỗi cung ứng xanh cùng với tiến bộ công nghệ và đổi mới sáng tạo là nguyên lý của chiến lƣợc tăng trƣởng xanh cho doanh nghiệp. Những phát triển gần đây trong công nghệ số đã tạo ra cơ hội mới cho doanh nghiệp để duy trì khả năng cạnh tranh trong khi thực hiện GSCM.
Quản lý chuỗi cung ứng là quản lý dòng hàng hóa và dịch vụ, bao gồm các quá trình biến nguyên liệu thô thành sản phẩm cuối cùng. Quản lý chuỗi cung ứng liên quan đến việc hợp lý hóa các hoạt động bên cung của doanh nghiệp để tối đa 14 hóa giá trị của khách hàng và đạt lợi thế cạnh tranh trên thị trƣờng. Quản lý chuỗi cung ứng thể hiện nỗ lực của nhà cung cấp nhằm phát triển và thực hiện các chuỗi cung ứng hiệu quả và tiết kiệm nhất có thể. Vì vậy GSCM có một số đặc điểm sau: - Kinh tế tuần hoàn: đây là một hệ thống, trong đó các tài nguyên đƣợc tận dụng lại hoặc tái sử dụng, các dòng phế liệu đƣợc biến thành đầu vào để tiếp tục sản xuất.
Hoạt động này đã đƣợc thúc đẩy bởi quá trình đô thị hóa nhanh chóng, biến đổi khí hậu, tiến bộ công nghệ và nhu cầu ngày càng tăng đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn. Có các chiến lƣợc khác nhau liên quan đến kinh tế tuần hoàn, bao gồm tƣ duy lại, giảm thiểu, thiết kế lại, tái sử dụng, điều chỉnh lại sản xuất, tái sản xuất, tái chế, phục hồi và thải bỏ. Một số chiến lƣợc kinh tế tuần hoàn tập trung vào việc “đóng” các vòng tuần hoàn tài nguyên, một số chiến lƣợc tập trung vào việc ngăn chặn tài nguyên xâm nhập vào các vòng tuần hoàn. Kinh tế tuần hoàn ngày càng đƣợc công nhận là một giải pháp thay thế tốt hơn cho mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống.
Xét từ quan điểm bền vững, tích hợp kinh tế tuần hoàn vào quản lý chuỗi cung ứng có thể mang lại nhiều lợi thế. Trong nhiều tài liệu về tính bền vững của quản lý chuỗi cung ứng, một số khái niệm, chẳng hạn nhƣ chuỗi cung ứng bền vững, chuỗi cung ứng xanh, chuỗi cung ứng môi trƣờng và chuỗi cung ứng vòng tuần hoàn khép kín, đã đƣợc đƣa ra để thể hiện sự tích hợp của các khái niệm bền vững trong quản lý chuỗi cung ứng.