CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG IOT TRONG DOANH NGHIỆP DU LỊCH 1. Khái quát về IoT tại các doanh nghiệp du lịch 1. Khái niệm về IoT Khái niệm IoT đã manh nha xuất hiện từ nhiều thập kỷ trước. Tuy nhiên mãi đến năm 1999 cụm từ IoT mới được đưa ra bởi Kevin Ashton, một nhà khoa học đã sáng lập ra Trung tâm Auto-ID ở Đại học MIT (MIT's Auto- ID Center), nơi thiết lập các quy chuẩn toàn cầu cho RFID (một phương thức giao tiếp không dây dùng sóng radio) cũng như một số loại cảm biến khác.
Theo Global Standards Initiative on Internet of Things (IoT-GSI) thì IoT là hạ tầng cơ sở toàn cầu phục vụ cho xã hội thông tin, hỗ trợ các dịch vụ (điện toán) chuyên sâu thông qua các vật thể (cả thực lẫn ảo) được kết nối với nhau nhờ vào công nghệ thông tin và truyền thông hiện hữu được tích hợp. Với mục đích ấy, một “vật” là một thứ trong thế giới thực (vật thực) hoặc thế giới thông tin (vật ảo), mà vật đó có thể được nhận dạng và được tích hợp vào một mạng lưới truyền thông. Theo Từ điển Wikipedia, IoT là một liên mạng, trong đó các thiết bị, phương tiện vận tải (được gọi là “thiết bị kết nối” và “thiết bị thông minh”), phòng ốc và các trang thiết bị khác được nhúngvới các bộ phận điện tử, phần mềm, cảm biến, cơ cấu chấp hành cùng với khả năng kết nối mạng máy tính giúp cho các thiết bị này có thể thu thập và truyền tải dữ liệu. IoT là một kịch bản của thế giới, khi mà mỗi đồ vật, con người được cung cấp một định danh của riêng mình và tất cả có khả năng truyền tải, trao đổi thông tin, dữ liệu qua một mạng duy nhất mà không cần đến sự tương tác trực tiếp giữa người với người, hay người với máy tính.
IoT đã phát triển từ sự hội tụ của công nghệ không dây, công nghệ vi cơ điện tử và Internet, là 15 một tập hợp các thiết bị có khả năng kết nối với nhau, với Internet và với thế giới bên ngoài để thực hiện một công việc nào đó.1: Mô tả tương tác của mạng lưới thiết bị kết nối Internet Nguồn: Wikipedia Có thể hiểu một cách đơn giản IoT là tất cả các thiết bị có thể kết nối với nhau. Việc kết nối có thể thực hiện qua mạng không dây (Wifi), mạng viễn thông băng rộng (3G, 4G, 5G), Bluetooth, ZigBee, hồng ngoại… Các thiết bị có thể là điện thoại thông minh, lò sưởi, máy rửa chén, máy giặt, tai nghe, bóng đèn, máy pha cà phê và rất nhiều thiết bị khác. Tất cả thiết bị và 16 đồ vật trong một ngôi nhà có thể kết nối hài hoà với nhau để tạo nên một ngôi nhà thông minh, trong đó mọi suy nghĩ và hành động của con người đều có thể được ghi nhận và hiểu được. Nổi bật hơn cả là khả năng liên lạc và hiểu nhau giữa tất cả các thiết bị nằm trong hệ thống IoT.
Để làm được điều đó, các đối tượng cần được trang bị khả năng nhận dạng một cách chính xác. Điều này rất quan trọng khi mọi đối tượng, kể cả con người, được “đánh dấu” để phân biệt bản thân đối tượng đó với những thứ xung quanh. Lúc ấy, chúng ta hoàn toàn có thể quản lý được mọi sự vật thông qua máy tính. Việc đánh dấu có thể được thực hiện thông qua nhiều công nghệ, chẳng hạn như RFID, Công nghệ giao tiếp trường gần NFC (Near-Field Communications), mã vạch, mã QR, watermark (hình mờ) kỹ thuật số.
Internet vạn vật là một mạng có thể kết nối với mọi thứ mọi lúc, mọi nơi bằng các công nghệ RFID (Nhận dạng tần số vô tuyến), WSN (Mạng cảm biến không dây) và giao tiếp di động 3G/4G/5G, theo một giao thức đã được thỏa thuận, nhằm xác định, định vị, theo dõi, giám sát và quản lý các đối tượng thông minh. Internet vạn vật là một cơ sở hạ tầng mạng toàn cầu năng động với các khả năng tự cấu hình dựa trên các giao thức truyền thông tiêu chuẩn và có thể tương tác, trong đó các yếu tố vật lý và ảo có đặc điểm nhận dạng, thuộc tính vật lý, thuộc tính ảo đuợc sử dụng giao diện thông minh và tích hợp liền mạch vào mạng thông tin. IoT có thể được thực hiện trong ba mô hình - định hướng internet (phần mềm trung gian), định hướng sự vật (cảm biến) và định hướng ngữ nghĩa (kiến thức). Kết nối các thiết bị cảm biến và kích hoạt cung cấp khả năng chia sẻ thông tin trên các nền tảng thông qua một khuôn khổ thống nhất, phát triển một bức tranh hoạt động chung để cho phép các ứng dụng sáng tạo.
Nghiên cứu của Sethi & Sarangi (2017) cho thấy, với Internet vạn vật, mọi thứ sẽ có thể giao tiếp với Internet bất cứ lúc nào từ bất 17 kỳ nơi nào để cung cấp bất kỳ dịch vụ nào bằng bất kỳ mạng nào cho bất kỳ ai. Khái niệm này sẽ tạo ra các loại ứng dụng mới, có thể liên quan đến các phương tiện thông minh và nhà thông minh, để cung cấp nhiều dịch vụ như thông báo, bảo mật, tiết kiệm năng lượng, tự động hóa, giao tiếp, máy tính và giải trí. Ứng dụng IoT được tác giả trình bày trong luận văn này chính là khả năng ứng dụng, hành động ứng dụng của kết nối vạn vật (IoT) và các phần mềm ứng dụng của IoT trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch. Đặc điểm của IoT 1.1 Thông minh: Trong thời gian đầu phát triển, khả năng điều khiển tự động và thông minh không nằm trong ý tưởng về IoT.
Máy móc và thiết bị lúc này có thể nhận biết và phản hồi lại môi trường xung quanh, tự điều khiển mà không cần kết nối mạng. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở các hoạt động riêng lẻ đó thì các thiết bị vẫn còn nhiều hạn chế. Từ đó, một số nhà nghiên cứu đã đặt vấn đề kết hợp IoT và khả năng tự điều khiển lại với nhau. Trong tương lai IoT sẽ trở thành một mạng lưới các thực thể thông minh có khả năng tự tổ chức và hoạt động riêng lẻ tuỳ theo tình huống, môi trường, đồng thời chúng cũng có thể liên lạc với nhau để trao đổi thông tin, dữ liệu.
Khả năng kết nối liên thông với IoT rất quan trọng và cốt lõi. Bất cứ thiết bị và thực thể nào cũng có thể kết nối với nhau thông qua mạng lưới thông tin và cơ sở hạ tầng liên lạc tổng thể. Ngoài ra, việc tích hợp trí thông minh vào hệ thống IoT còn có thể giúp các thiết bị, đồ vật, phần mềm thu thập và phân tích các dấu vết hành động của con người. Mỗi khi chúng ta có bất kỳ tương tác nào tới hệ thống, phiên bản số của các tương tác đó sẽ được ghi nhận và phân tích ngay lập tức.
Từ đó, phát hiện ra các tri thức mới liên quan tới cuộc sống, môi trường, các mối 18 tương tác xã hội cũng như hành vi của con người. Điều này rất quan trọng, giúp cho hệ thống phát triển một cách linh hoạt và đạt hiệu quả tương tác ngày càng cao hơn theo thời gian.2 Kiến trúc dựa trên sự kiện: Các thực thể, máy móc trong hệ thống IoT sẽ phản hồi dựa theo các sự kiện diễn ra trong lúc chúng hoạt động theo thời gian thực. Mạng lưới các cảm biến có khả năng thay đổi linh hoạt chính là thành phần cơ bản của hệ thống IoT. Trạng thái của các thiết bị sẽ tự động thay đổi.
Ví dụ, kết nối hoặc bị ngắt, đang ngủ hoặc thức dậy, thay đổi vị trí hoặc tốc độ… Xa hơn nữa, số lượng thiết bị trong hệ thống IoT có thể tự động thay đổi, cho phép nhiều thiết bị mới có thể được tích hợp thành công vào hệ thống hiện tại.3 Một hệ thống phức tạp và không đồng nhất: Hệ thống IoT mang tính chất phức tạp bởi vì nó bao gồm một lượng lớn các đường liên kết giữa nhiều thiết bị, máy móc, dịch vụ với nhau. Với khả năng thêm vào các thành phần mới, hệ thống IoT có thể sẽ cung cấp các dịch vụ liên quan đến “Things”, chẳng hạn như bảo vệ sự riêng tư và nhất quán giữa thực thể vật lý và thực thể ảo. Để cung cấp được dịch vụ này, công nghệ phần cứng và công nghệ thông tin (phần mềm) sẽ phải thay đổi. Bên cạnh đó, các thiết bị trong IoT là không đồng nhất vì nó có phần cứng khác nhau và mạng khác nhau.
Các thiết bị giữa các mạng có thể tương tác với nhau nhờ vào sự liên thông và kết nối của các mạng.4 Quy mô và kích thước lớn: Sẽ có một số lượng rất lớn các thiết bị được quản lý và giao tiếp với nhau trong hệ thống IoT. Số lượng này lớn hơn nhiều so với số lượng máy tính kết nối Internet hiện nay. Số lượng các thông tin được truyền bởi thiết bị sẽ lớn hơn nhiều so với được truyền bởi con người. Một mạng lưới IoT có thể chứa từ 50 đến 100 nghìn tỷ đối tượng được kết nối và mạng lưới này có thể 19 theo dõi sự di chuyển của từng đối tượng.
Một con người sống trong thành thị có thể bị bao bọc xung quanh bởi 1.000 đối tượng có khả năng theo dõi .5 Tính không gian và thời gian: Trong hệ thống IoT, vị trí địa lý chính xác của một vật nào đó rất quan trọng. Hiện nay, Internet chủ yếu sử dụng để quản lý thông tin được xử lý bởi con người. Do đó những thông tin như địa điểm, thời gian, không gian của đối tượng không mấy quan trọng bởi người xử lý thông tin có thể quyết định các thông tin này có cần thiết hay không và nếu cần họ có thể bổ sung thêm. Trong khi đó, IoT về lý thuyết sẽ thu thập rất nhiều dữ liệu, trong đó có thể có dữ liệu thừa về địa điểm, việc xử lý dữ liệu đó được xem như không hiệu quả.
Ngoài ra, việc xử lý một khối lượng lớn dữ liệu trong thời gian ngắn đủ để đáp ứng cho hoạt động của các đối tượng cũng là một thách thức lớn hiện nay.6 Luồng năng lượng mới: Hiện nay, IoT đang trải qua giai đoạn phát triển “bộc phát”. Điều này xảy ra nhờ vào một số nhân tố, trong đó gồm giao thức liên mạng thế hệ 6 (IPv6), công nghệ 4G, chi phí và tính sẵn có của công nghệ. Trong 5 năm tiếp theo, chúng ta sẽ thấy ngày càng có nhiều thiết bị trên thị trường.