chương 1, tác giả đã giới thiệu tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, các mục tiêu mà nghiên cứu hướng đến, cùng với đó tác giả đã trình bày tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài bao gồm các nghiên cứu nước ngoài và các nghiên cứu trong nước. Ngoài 6 ra, tác giả còn giới thiệu đối tượng, phạm vi nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu,. đây chính là cơ sở đầu tiên để phát triển các chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Khái niệm về ngân hàng xanh Trong những năm gần đây, tại Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới, khái niệm “ngân hàng xanh” được nhắc đến nhiều hơn như một xu hướng, bởi lẽ hầu hết các quốc gia đang phải đối mặt với những tác động nặng nề và ngày càng rõ nét của sự biến đổi khí hậu, việc bảo vệ môi trường đang bị đánh đổi để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ, nhiều hội nghị quốc tế đã được tổ chức để bàn luận về khủng hoảng kinh tế và môi trường trên toàn thế giới. Kết quả của các hội nghị đều kết luận rằng khôi phục kinh tế phải gắn với phát triển bền vững. Cuối năm 2012, hơn 6000 ngân hàng và các tổ chức tài chính quốc tế đã cử đại diện tham gia thảo luận về vai trò của ngân hàng trong việc khôi phục kinh tế toàn cầu.
Việc cấp tín dụng tràn lan và thiếu kiểm soát của các ngân hàng là một trong những nguyên nhân dẫn đến kinh tế toàn cầu rơi vào khủng hoảng. Các ngân hàng cũng bị chỉ trích vì đầu tư vào những ngành công nghiệp gây hại cho môi trường (Chrish và cộng sự, 2012 và Bihari, 2011). Hơn nữa, ngành ngân hàng là một ngành có mức lợi nhuận cao nên phải đối mặt với sự bất bình của dư luận trong bối cảnh thiếu công bằng trong phát triển kinh tế. Từ những lý do trên, cần phải tăng cường quy định của các ngân hàng và các tổ chức tài chính, xây dựng cộng đồng ngân hàng phát triển một cách bền vững (Clark, 2011 và Don Goldstein, 2010).
Lần đầu tiên xuất hiện khái niệm “Ngân hàng xanh” là vào năm 2003 tại các quốc gia Phương Tây với mục đích bảo vệ môi trường (Lalon, 2015). Khái niệm Ngân hàng xanh được hiểu theo 2 cách thông dụng. Thứ nhất, theo nghĩa rộng “Ngân hàng xanh là chính là Ngân hàng bền vững” (Imeson M., 2010), bài nghiên cứu chỉ ra rằng một ngân hàng muốn phát triển bền vững thì cần các quyết định đầu tư đưa ra phải dựa trên lợi ích của người tiêu dùng, kinh tế, xã hội và môi trường. Ngân hàng chỉ phát triển bền vững khi đặt lợi ích kinh doanh của ngân hàng gắn với 8 lợi ích xã hội.
Thứ hai, hiểu theo nghĩa hẹp, NHX là các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng được thực hiện theo hướng vì môi trường, giảm phát thải khí CO2, như tư vấn, định hướng khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ xanh; áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường trong việc xét duyệt vốn vốn vay, ưu tiên cấp tín dụng cho các dự án giảm khí CO2, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch,… (UN ESCAP, 2012). Ngân hàng được coi là “xanh” khi đáp ứng hai tiêu chí: thứ nhất là cung cấp dịch vụ xanh trong ngắn hạn, thứ hai là có chiến lược kinh doanh trong dài hạn đáp ứng các tiêu chí về môi trường và trách nhiệm xã hội. Theo Biswas (2016), ngân hàng xanh được hiểu là sự kết hợp và thúc đẩy các hoạt động môi trường thân thiện và giảm lượng khí thải carbon (carbon footprint) (hay còn gọi là dấu chân carbon) từ hoạt động ngân hàng. Ngân hàng xanh hướng tới việc thực hiện các hoạt động kinh doanh theo cách thức giúp giảm khí thải carbon ra bên ngoài ngay chính công việc nội bộ của ngân hàng.
Để thực hiện được việc giảm khí thải carbon ra môi trường bên ngoài, các ngân hàng xem xét tài trợ cho các dự án xanh và các dự án không có tác động xấu đến môi trường. Còn đối với hoạt động nội bộ của ngân hàng, mặc dù ngành ngân hàng không được coi là ngành công nghiệp gây ô nhiễm, tuy nhiên với quy mô hoạt động hiện tại đã làm gia tăng lượng khí thải carbon ra môi trường một cách đáng kể từ các thiết bị chiếu sáng, điều hoà không khí, các thiết bị điện tử, thiết bị điện,…cùng với rất nhiều rác thải từ giấy in, mực in,…Vì vậy các ngân hàng nên hướng tới việc áp dụng công nghệ, quy trình, sản phẩm mà kết quả mang lại là giảm đáng kể lượng khí carbon ra môi trường cũng như phát triển hoạt động kinh doanh một cách bền vững. Theo Bihira (2011) ngân hàng xanh là việc thúc đẩy các hoạt động thân thiện với môi trường và giảm lượng khí thảo carbon trong hoạt động ngân hàng. Ngân hàng xanh là hình thức sử dụng ngân hàng trực tuyến thay vì phải đi đến các điểm giao dịch của ngân hàng.
NHX hay còn gọi là ngân hàng bền vững đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các ngân hàng và tổ chức tài chính đang tìm kiếm một cơ chế toàn diện để giúp họ đối phó với những tác động tàn khốc của biến đổi khí hậu (Shampa và Jobaid, 2017). 9 Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngân hàng xanh, nhưng nhìn chung “ngân hàng xanh” là ngân hàng hoạt động gắn với trách nhiệm gìn giữ môi trường tự nhiên và trách nhiệm đối với xã hội thông qua hai hoạt động chính: (1) cung các sản phẩm dịch vụ ngân hàng ưu tiên cho việc phát triển môi trường bền vững; (2) vận hành hoạt động nội bộ của ngân hàng theo hướng tiết kiệm năng lượng như tiết kiệm giấy, tiết kiệm điện nước, tái sử dụng công cụ dụng cụ, giảm tối đa lượng rác xả thải ra môi trường,…NHX giống như một ngân hàng bình thường tuy nhiên tất cả các khía cạnh về xã hội và yếu tố môi trường nhằm mục đích bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên. NHX còn gọi là ngân hàng đạo đức hoặc ngân hàng bền vững. Và đây cũng là quan điểm về ngân hàng xanh được tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu.
Các cấp độ của ngân hàng xanh Kaeufer (2010) và González (2008) đã chỉ ra xu thế tất yếu của việc phát triển mô hình NHX và trách nhiệm xã hội với việc cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng xanh và tác động của việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng xanh đến hiệu quả hoạt động ngân hàng cũng như góp phần bảo vệ môi trường, đảm bảo tăng trưởng xanh bền vững. Trong đó, ngân hàng xanh được chia làm 5 cấp độ phát triển, từ thấp tới cao, cụ thể như sau: - Cấp độ 1: Thực hiện các hoạt động bổ trợ, tài trợ kinh phí cho các chương trình”xanh” và trực tiếp tham gia các hoạt động cộng đồng. - Cấp độ 2: Tách bạch việc phát triển các dự án và hoạt động kinh doanh, trong đó ngân hàng bổ sung thêm các sản phẩm và dịch vụ xanh vào danh mục sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống. - Cấp độ 3: Hoạt động kinh doanh có hệ thống, trong đó hầu hết quy trình, sản phẩm dịch vụ ngân hàng tuân thủ theo nguyên tắc xanh, cơ cấu tổ chức của ngân hàng được thiết kế để hỗ trợ tác động “xanh” trên các giác độ: mục tiêu hoạt động, nguyên tắc hoạt động, nhân sự và cơ cấu tổ chức, quy trình hoạt động.
- Cấp độ 4: Sáng kiến cân bằng sinh thái tầm chiến lược. Hoạt động ngân hàng xanh không chỉ giới hạn ở phạm vi các nghiệp vụ đơn lẻ mà được mở rộng thành 10 mạng lưới, liên minh, đối thoại cộng đồng hay toàn thể hệ sinh thái nhằm đạt được tính bền vững của các yếu tố xã hội, môi trường và tài chính. - Cấp độ 5: Sáng kiến cân bằng sinh thái chủ động, trong đó các hoạt động ngân hàng xanh tương tự như cấp độ 4, nhưng được thực hiện một cách có mục đích, không chỉ là các hoạt động ứng phó với thay đổi bên ngoài như cấp độ 4. Ý định, áp dụng thực hành ngân hàng xanh Ý định là yếu tố được sử dụng để đánh giá khả năng hành vi của cá nhân, là dự định, kế hoạch gì đó sẽ thực hiện trong tương lai.
Theo Ajzen (1991), ý định mang tính thúc đẩy và thể hiện nỗ lực của bản thân sẵn sàng thực hiện một hành vi cụ thể. Zhao và Othman (2010) lại định nghĩa ý định là một quá trình hành động mà một cá nhân muốn đạt được. Theo nghiên cứu của Peña-García (2020) thì ý định hành vi có ảnh hưởng tích cực đến việc sử dụng công nghệ. Đây là yếu tố quan trong quyết định hành vi tiêu dùng.
Dass và Pal (2011) khẳng định rằng, ý định hành vi như một quá trình ra quyết định nhận thức về việc thực hiện một hành vi hoặc hành động. Ý định đóng vai trò quan trọng quyết định hành vi thực tế, có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi thực tế. Dự đoán được ý định là bước đầu để dự đoán hành vi thực tế (Howard và Sheth, 1969). Ý định hành vi còn được đo lường thông qua các biểu hiện cụ thể: ý định hành động tích cực có xu hướng gắn bó người tiêu dùng với sản phẩm, dịch vụ, tăng lượng sử dụng, nói tốt về sản phẩm, dịch vụ và nhà cung cấp, sẵn sàng trả chi phí cao hơn để sử dụng sản phẩm, dịch vụ.
Ngược lại, ý định hành động tiêu cực khiến người tiêu dùng giảm sút hoặc ngừng sử dụng sản phẩm, dịch vụ, thậm chí chuyển sang sử dụng sản phẩm, dịch vụ cạnh tranh và nói không tốt về sản phẩm, dịch vụ và nhà cung cấp (Saha, 2009). Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy hành vi sử dụng bất kỳ công nghệ nào thường bị ảnh hưởng bởi ý định sử dụng công nghệ đó. Các lập luận cho quan điểm này lần đầu tiên được trình bày bởi (Sheppard và công sự, 1988), các nhà nghiên cứu 11 đã phân tích lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và tuyên bố rằng ý định là yếu tố dự báo chính về việc sử dụng công nghệ. Dựa trên phát hiện này, (Venkatesh và các cộng sự, 2003) đã phát triển mô hình UTAUT và sử dụng ý định như một yếu tố quyết định trực tiếp khi khám phá việc sử dụng công nghệ như một biến phụ thuộc.