Chương 1: Giới thiệu Chƣơng này giới thiệu tổng quan về tính cấp thiết của luận án, mục đích và phạm vi nghiên cứu, trình bày các nghiên cứu trong nƣớc và quốc tế, cũng nhƣ sơ lƣợc các phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng. Chương 2: Khung lý thuyết Trình bày các khái niệm cơ bản và lý thuyết cơ bản. Chương 3: Mô hình nghiên cứu Tác giả tập trung trình bày chủ yếu về phƣơng pháp nghiên cứu bao gồm quy trình, giả thuyết, điều kiện và quy trình chọn mẫu, cách thu thập nguồn dữ liệu đầu vào, cách xác định giá trị của dữ liệu, các biến số và phƣơng pháp kiểm định đƣợc sử dụng cho phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 4: Phân tích dữ liệu, kết quả và thảo luận Chủ yếu tập trung thảo luận kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong chƣơng 3.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày ngắn gọn kết quả thu đƣợc từ nghiên cứu. Từ đó đƣa ra kết luận và kiến nghị. TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Chƣơng 1 chỉ ra tầm quan trọng của việc phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam. Tác giả đƣa ra 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể từ mục tiêu nghiên cứu chung và sẽ đƣợc giải quyết thông qua 3 câu hỏi nghiên cứu tƣơng ứng.
Tiếp theo, đề tài trình bày đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu là 25 NHTM Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021. Sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính và phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng trên cơ sở kế thừa và mở rộng các nghiên cứu trƣớc để cập nhật các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản có thể thay đổi theo thời gian. Cuối 7 cùng, chƣơng này sẽ trình bày cấu trúc của luận án gồm 5 chƣơng và phần tóm tắt nội dung chính của từng chƣơng. 8 CHƢƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT 2.
Thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm thanh khoản Thanh khoản là một thuật ngữ dung để chỉ mức độ lƣu động của một tài sản bất kỳ, có thể đƣợc mua hoặc bán trên thị trƣờng mà không gây ảnh hƣởng lớn đến giá thị trƣờng của nó. Hiểu đơn giản, khái niệm này dùng để chỉ khả năng chuyển đổi thành tiền mặt của tài sản một cách nhanh chóng. Nếu tài sản có tính thanh khoản cao, nó dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt với giá thị trƣờng hoặc giá trị mong muốn.
Ngƣợc lại, tính thanh khoản thấp tức là thị trƣờng có rất ít cơ hội mua và bán, dẫn đến khó giao dịch hơn. Đây là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá xếp hạng các tổ chức tín dụng nhƣ công ty tài chính, ngân hàng hợp tác xã, NHTM… Thông qua tính thanh khoản, ta có thể thấy đƣợc mức độ linh hoạt của một công ty trong vấn đề tài chính cũng nhƣ cách giải quyết các chi phí phát sinh của họ. Thanh khoản ngân hàng Thanh khoản ngân hàng là khả năng đáp ứng đƣợc nhu cầu rút tiền và giải ngân những khoản vay tín dụng cam kết một cách tức thời. Tùy thuộc nhu cầu của khách hàng mà thời gian thanh khoản có thể là dài hạn hoặc ngắn hạn.
Theo Basel (2008), định nghĩa về thanh khoản ngân hàng nhƣ sau: “Thanh khoản ngân hàng là khả năng ngân hàng vừa tăng tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không phải chịu tổn thất quá mức”. Khi một ngân hàng không thể thực hiện các nghĩa vụ của mình, chẳng hạn nhƣ giải ngân các khoản vay, trả tiền gửi khi đáo hạn, hoặc thực hiện các khoản thanh toán và giao dịch tài chính đầy đủ và đúng hạn, điều đó có nghĩa là ngân hàng đó mất khả năng thanh khoản” (Bessis, 2012). Với các định nghĩa thu thập đƣợc ở trên, tác giả có thể tóm tắt khái niệm thanh khoản ngân hàng, đƣợc thể hiện bằng việc ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ đã cam kết nhƣ trả tiền gửi khi đáo hạn, giải ngân các khoản vay, thanh toán và giao dịch tài chính ở mức hợp lý và thấp. chi phí để tránh gây ra những thiệt hại đáng kể dẫn đến khả năng thanh toán của ngân hàng.
Cung cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng Cung cầu thanh khoản trong ngành ngân hàng đề cập đến sự cân đối giữa khả năng cung cấp thanh khoản từ phía ngân hàng và nhu cầu thanh khoản từ phía khách 9 hàng và thị trƣờng. Nhu cầu thanh khoản của khách hàng bao gồm việc rút tiền mặt, chuyển khoản, vay mƣợn và các giao dịch tài chính khác. Ngân hàng, từ phía mình, cần đảm bảo rằng họ có khả năng cung cấp thanh khoản đủ để đáp ứng các nhu cầu này. Trạng thái thanh khoản ròng là sự so sánh giữa nguồn cung và nhu cầu thanh khoản trong hệ thống ngân hàng.
Nếu ngân hàng có cung cầu thanh khoản cân đối, tức là nguồn cung thanh khoản đủ đáp ứng nhu cầu từ phía khách hàng và thị trƣờng, trạng thái thanh khoản ròng sẽ đƣợc coi là ổn định. Ngƣợc lại, nếu nhu cầu thanh khoản vƣợt quá nguồn cung, trạng thái thanh khoản ròng sẽ bị thắt chặt, gây khó khăn trong việc thực hiện các giao dịch và gây áp lực lên hệ thống ngân hàng. Khi trạng thái thanh khoản ròng không ổn định, ngân hàng có thể gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu rút tiền và các giao dịch tài chính khác của khách hàng. Điều này có thể dẫn đến sự mất niềm tin của khách hàng và tăng rủi ro cho ngân hàng.
Do đó, quản lý thanh khoản là một khía cạnh quan trọng trong hoạt động ngân hàng để đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính và sự tin cậy của khách hàng. Để duy trì trạng thái thanh khoản ròng ổn định, ngân hàng cần quản lý tốt việc phân bổ tài sản và nguồn vốn của mình. Họ cần đảm bảo rằng có đủ tiền mặt và các tài sản dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng. Phƣơng pháp đo lƣờng thanh khoản Vodova (2011) đƣa ra hai phƣơng pháp đo lƣờng thanh khoản: đo lƣờng bằng khe hở thanh khoản và đo lƣờng bằng tỷ số thanh khoản.
Phƣơng pháp đo lƣờng khe hở thanh khoản là phƣơng pháp đo lƣờng chênh lệch giữa vốn và tài sản ở hiện tại và tƣơng lai. Tỷ lệ thanh khoản là một phƣơng pháp tính toán các tỷ lệ khác nhau đƣợc thu thập từ dữ liệu bảng cân đối kế toán, từ đó dự đoán biến động thanh khoản. Phƣơng pháp đo lƣờng khe hở thanh khoản Khe hở thanh khoản là chênh lệch giữa tổng dƣ nợ cho vay bình quân và tổng vốn huy động bình quân. Khoảng trống thanh khoản thể hiện dấu hiệu cảnh báo rủi ro thanh khoản trong tƣơng lai của ngân hàng.
10 Giả sử khe hở thanh khoản là dƣơng và có giá trị rất lớn. Trong trƣờng hợp đó, ngân hàng buộc phải giảm dự trữ tiền mặt, giảm tài sản lƣu động, hoặc vay thêm tiền trên thị trƣờng tiền tệ, dẫn đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng tăng lên. Phƣơng pháp đo lƣờng khả năng thanh khoản bằng tính toán khe hở thanh khoản là phƣơng pháp thích hợp nhất trong phân tích định lƣợng, chỉ số khe hở thanh khoản phản ánh cơ bản nhất khả năng thanh khoản của ngân hàng. Phƣơng pháp đo lƣờng tỷ lệ thanh khoản Có nhiều cách để đo lƣờng tính thanh khoản của một ngân hàng.
Rose (2004) đã đo lƣờng tính thanh khoản của một ngân hàng bằng phƣơng pháp chỉ số thanh khoản. Phƣơng pháp này đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu áp dụng, tiêu biểu nhƣ Vodova (2011), Bunda & Desquilbet (2008). Phƣơng pháp này bao gồm bốn chỉ số thanh khoản nhƣ sau: Tài sản thanh khoản trong L1 bao gồm tiền mặt, chứng khoán kinh doanh và tiền gửi tại ngân hàng trung ƣơng hoặc các tổ chức tín dụng khác. Tỷ lệ này cho biết trong tổng tài sản có của NHTM có bao nhiêu phần trăm tài sản lƣu động.
Thông thƣờng, chỉ số cao cho thấy vị thế thanh khoản tuyệt vời và rủi ro thanh khoản thấp, nhƣng nó cũng cho thấy ngân hàng đang hoạt động kém hiệu quả do nắm giữ quá nhiều tài sản có khả năng sinh lời thấp hoặc tài sản không sinh lời. Tỷ số thanh khoản L2 cho biết tài sản có tính thanh khoản nhƣ thế nào so với tiền gửi và vốn huy động. Tỷ lệ này giống nhƣ L1; tỷ lệ L2 càng cao (lớn hơn hoặc bằng 100%) thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt. Tỷ lệ này cho biết bao nhiêu phần trăm tổng tài sản của ngân hàng là dƣ nợ.
Tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng thấp dẫn đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng càng cao. 11 Tỉ lệ này tƣơng tự với chỉ số L3. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng thấp. L1 và L2 đo lƣờng tính thanh khoản tuyệt đối, trong khi chỉ số L3 và L4 đo lƣờng tính thanh khoản tƣơng đối.
Hầu hết các tác giả đã sử dụng cả bốn tỷ lệ thanh khoản để đánh giá tác động đến khả năng thanh khoản của ngân hàng, chẳng hạn nhƣ Vodova (2011), Aspachs et al. Tuy nhiên, tác giả chỉ chọn chỉ số L1 để đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng vì chỉ số này cho ta cái nhìn tổng quát nhất về khả năng thanh khoản của ngân hàng cả trong ngắn hạn và trung-dài hạn. Chỉ số L1 cho biết có bao nhiêu phần trăm tổng tài sản của ngân hàng là tài sản lƣu động mà ngân hàng có thể dự trữ để phòng ngừa rủi ro thanh khoản. Trong ngắn hạn, nếu một ngân hàng tại Việt Nam gặp phải tình trạng thiếu hụt thanh khoản đột ngột, ngân hàng đó vẫn có thể vay tiền trên thị trƣờng liên ngân hàng hoặc nhờ sự hỗ trợ từ Ngƣời cho vay cuối cùng để bù đắp thiếu hụt thanh khoản mà không dẫn đến phá sản.
Tuy nhiên, chi phí để bù đắp cho sự thiếu thanh khoản này không hề rẻ; nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hƣởng lớn đến lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, buộc ngân hàng này phải đứng trƣớc bờ vực phá sản hoặc NHNN mua lại với giá 0 đồng Việt Nam. Do đó, chỉ số L1 sẽ vƣợt trội so với các chỉ số khác khi đánh giá tính thanh khoản trong cả ngắn hạn và dài hạn. Các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng 2. Nhóm nhân tố bên trong ngân hàng Nhóm nhân tố bên trong có thể ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản của một ngân hàng gồm có: Khả năng quản lý rủi ro Khả năng quản lý rủi ro của ngân hàng có thể ảnh hƣởng đến khả năng thanh toán và thanh khoản.