CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về thanh khoản của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về thanh khoản của các ngân hàng thương mại Trong tài chính, thuật ngữ “thanh khoản” được sử dụng trong nhiều phạm vi và góc độ khác nhau. Dưới góc độ tài sản, thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản và ngược lại.
Theo Petet (2004): “Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thỏa mãn đồng thời hai đặc điểm: Có thị trường giao dịch để có thể chuyển hóa tài sản thành tiền và có giá cả tương đối ổn định, không bị ảnh hưởng bởi số lượng và thời gian giao dịch.” Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008): “Thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được”. Bên cạnh đó, Lê Thanh Hà (2019): “Tính thanh khoản chỉ mức độ của một tài sản bất kỳ có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản đó. Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu được bán nhanh chóng mà giá không giảm đáng kể, thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn.” Ngoài ra, theo Lê Thanh Hà (2019): “Thanh khoản ngân hàng là khả năng mà ngân hàng tức thời đáp ứng được nhu cầu rút tiền và giải ngân các khoản tín dụng theo cam kết. Khi các ngân hàng bị hạn chế về khả năng cung ứng đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời, hoặc ngay cả khi chỉ có thể cung ứng với một chi phí cao thì rủi ro thanh khoản của ngân hàng xuất hiện”.
Tóm lại, chúng ta có thể hiểu thanh khoản của ngân hàng thương mại như sau: Thanh khoản đại diện cho khả năng ngân hàng có thể thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn (đến mức tối đa) và theo đơn vị tiền tệ được quy định, do thực hiện bằng tiền nên thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền. 8 Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh khoản sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản. Cung, cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng Vấn đề thanh khoản xuất hiện khi ngân hàng đứng trước nhu cầu rút tiền từ khách hàng hoặc thực hiện nhiệm vụ như đã cam kết. Lúc này, ngân hàng không chỉ lo cân đối nhu cầu rút tiền với lượng tiền hiện có, mà còn phải tính đến khả năng huy động vốn tiếp theo.
Vậy, việc đánh giá thanh khoản của ngân hàng phải nhìn ở trạng thái động, phải xem xét trong mối tương quan cung – cầu vốn khả dụng của ngân hàng trong từng giai đoạn nhất định. Cung thanh khoản Cung thanh khoản là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng thương mại, bao gồm các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng. Đây được xem là nguồn cung thanh khoản chủ yếu của ngân hàng. Để tăng cung thanh khoản, ngân hàng có thể thực hiện các biện pháp như: Điều Các khoản tiền ký thác chỉnh lãi suất huy động, tạo các dịch vụ hấp hẫn khác, phong cách phục vụ chuyên nghiệp, uy tín của ngân hàng Các khoản tín dụng hoàn trả là khoản tín dụng Các khoản tín dụng hoàn trả được thanh toán đầy đủ nguyên gốc sau khi sử dụng để ngân hàng bảo toàn nguồn vốn.
Các khoản thu từ việc cung cấp dịch vụ cho khách Các khoản thu từ dịch vụ hàng như thu phí bảo lãnh, phí mở L/C, phí chuyển tiền,… Để tăng nguồn cung thanh khoản, ngân hàng có Các khoản vay từ thị trường thể vay trên thị trường tiền tệ từ các NHTM khác tiền tệ hoặc NHTW, đặc biệt là trong thời kỳ khủng 9 hoảng thanh khoản thì vay từ thị trường liên ngân hàng càng đóng vai trò quan trọng để giải quyêt khó khăn thanh khoản trong thời gian nhanh nhất. Có nhu cầu thanh khoản, ngân hàng có thể chuyển Các khoản bán tài sản một phần tài sản thành tiền Phát hành cổ phiếu ra thị Ngân hàng có thể phát hành cổ phiếu ra thị trường trường để tăng nguồn cung thanh khoản.1: Nguồn cung thanh khoản ngân hàng (Nguồn: Quantri. Cầu thanh khoản Cầu về thanh khoản phản ánh nhu cầu rút tiền khỏi ngân hàng ở những thời điểm khác nhau. Nhu cầu thanh khoản phụ thuộc vào các nhân tố sau: Khách hàng của ngân hàng có nhu cầu rút tiền thường xuyên hoặc tức thời, bao gồm các khoản tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi Chi trả tiền gửi cho khách có kỳ hạn đến hạn và các khoản tiền mà khách hàng hàng có thể rút trước hạn.
Trong đó, tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi thanh toán, ngân hàng luôn phải đảm bảo khoản dự trữ để đáp ứng nhu cầu thanh toán từ tài khoản này. Đây là nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng, khi ngân hàng sử dụng vốn huy động để cho khách hàng vay. Nhu cầu vay tiền từ khách hàng có tác động Cấp tín dụng cho khách hàng mạnh đến cầu thanh khoản của ngân hàng và nhu cầu này chịu ảnh hưởng bởi các nhu cầu đầu tư của khách hàng, lãi suất cho vay, các quy định về điều kiện vay vốn,… 10 Đây là khoản mà ngân hàng phải hoàn trả cho các Hoàn trả các khoản đi vay khoản đi vay từ các tổ chức kinh tế, cá nhân, TCTD khác hoặc NHNN. Đây là các khoản chi phí hoạt động của ngân hàng Chi phí quản lý điều hành và như chi tiền lương, tiền thưởng, các chi phí dịch chi phí dịch vụ vụ ngoài như chi phí điện, quảng cáo,… Đây là các khoản chi phí trả lãi huy động, trả lãi Chi phí lãi vay phát hành giấy tờ có giá mà ngân hàng đã huy động trước đây.
Chi trả cổ tức Các khoản chi trả cổ tức cho các cổ đông Các khoản chi để mua cổ phiếu quỹ, cổ phiếu mà ngân hàng đã phát hành trước đây nhằm mục đích Mua lại cổ phiếu kích cầu để tăng giá cổ phiếu, tăng thu nhập trên mỗi cố phiếu (EPS) hoặc để thưởng cho nhân viên,… Bảng 1.1: Cầu về thanh khoản ngân hàng (Nguồn: Quantri. Trạng thái thanh khoản ròng Trên thực tế, nguồn cung và nhu cầu thanh khoản tương đối đa dạng, sự chênh lệch giữa tổng cung và tổng cầu tại một thời điểm thể hiện trạng thái thanh khoản ròng được thể hiện bằng công thức: NLP (Net position liquidity) = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Có 3 trường hợp xảy ra khi xác định trạng thái thanh khoản ròng: - Khi NLP = 0, trạng thái thanh khoản cân bằng 11 - Khi NLP > 0, tổng cung lớn hơn tổng cầu thanh khoản, hay còn gọi là thặng dư thanh khoản, trong trường hợp này nhà quản lý ngân hàng cần xem nên đầu tư vào đâu để sinh lãi từ tài khoản tiền thặng dư này. - Khi NLP < 0, tổng cung nhỏ hơn tổng cầu thanh khoản, hay còn gọi là thâm hụt thanh khoản, trong trường hợp này nhà quản lý ngân hàng cần xem khi nào và ở đâu có thể tăng được nguồn cung thanh khoản bổ sung. Thặng dư hay thiếu hụt thanh khoản đều diễn tả tình trạng mất cân bằng của ngân hàng.
Thặng dư thanh khoản thường xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, thiếu cơ hội đầu tư và kinh doanh. Nguyên nhân thặng dư thanh khoản cũng xảy ra khi một ngân hàng thiếu những phương pháp và khả năng tiếp cận thị trường. Các nguyên nhân khác gây ra thặng dư còn có: Ngân hàng không khai thác hết những tài sản có khả năng sinh lời, hoặc nguồn vốn tăng trưởng quá nhanh so với quy mô hoạt động và khả năng quản lý. Ngược lại, thiếu hụt thanh khoản là việc ngân hàng không có đủ vốn để hoạt động.
Thiếu hụt thanh khoản có thể gây ra những hậu quả trầm trọng cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng như: Mất đi cơ hội kinh doanh, mất khách hàng, mất thị trường, làm sụt giảm lòng tin của công chúng, … 1. Vai trò của thanh khoản trong hoạt động ngân hàng thương mại Hoạt động kinh doanh của một NHTM đều hướng tới ba mục tiêu chính là sinh lợi, an toàn và thanh khoản. Bản thân ba mục tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để ngân hàng tồn tại và phát triển. Trong ba mục tiêu đó, mục tiêu thanh khoản là mục tiêu đặc biệt quan trọng, đảm bảo cho ngân hàng hoạt động liên tục.
Thanh khoản là khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền tức thời của khách hàng. Thanh khoản là vấn đề rất nhạy cảm trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Thiệt hại từ rủi ro thanh khoản tác động đến cả ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. 12 - Đối với các ngân hàng, khi bị mất thanh khoản sẽ chịu nhiều thiệt hại: Thứ nhất, nếu thanh khoản kém, điều này buộc các ngân hàng phải chạy đua huy động vốn, do đó dẫn đến lãi suất huy động cao, lãi suất huy động tăng cao buộc lãi suất cấp tín dụng cao và trở nên khó cho vay.
Khi buộc phải trả lãi suất huy động cao nhưng lại không thể cho vay sẽ làm cho ngân hàng bị lỗ. Thứ hai, nếu thanh khoản thấp, ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu rút tiền từ khách hàng, cũng như nhu cầu giải ngân cho các khoản cấp tín dụng dẫn đến mất niềm tin của người gửi tiền, kể cả các giao dịch liên ngân hàng. - Đối với nền kinh tế, các vấn đề rủi ro thanh khoản ảnh hưởng trước hết đến hoạt động đầu tư. Khi lãi suất tiền gửi tăng, nguồn tiền lúc này tập trung gửi vào ngân hàng làm cho nền kinh tế sẽ giảm kênh huy động vốn.
Lãi suất tiền gửi tăng buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay nếu như mong muốn có lãi. Khi lãi suất cấp tín dụng cao, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, dẫn đến giá cả tăng, lạm phát tăng, … Như vậy, thanh khoản luôn và vấn đề trọng tâm trong kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Ví dụ Mỹ là một trong những quốc gia có thị trường tài chính tiền tệ đạt đến trình độ phát triển cao, các chuẩn mực quản lý thị trường luôn được hoàn thiện liên tục. Tuy nhiên trong quá khứ, một số NHTM ở Mỹ từng phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến thanh khoản.