mở đầu là phần trình bày về lý do chọn đề tài kết hợp cùng các mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa đề tài và cấu trúc khóa luận đây được xem là cơ sở để hình thành các chương tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm Ngân hàng thương mại Theo khoản 3, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010 “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Bản chất Ngân hàng thương mại Bản chất NHTM được thể hiện qua các khía cạnh sau: NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt và là một tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh trong ngành dịch vụ tài chính ngân hàng. Bởi lẽ nó hoạt động trong ngành kinh tế và có cơ cấu tổ chức như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, phải tự chủ về kinh tế và phải đóng thuế cho nhà nước như các đơn vị kinh tế khác. Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh, các ngân hàng phải có vốn, phải tự chủ về tài chính, đặc biệt hoạt động kinh doanh cần đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của NHTM cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Tuy nhiên việc tìm kiếm lợi nhuận là phải chính đáng trên cơ sở chấp hành luật pháp của nhà nước. Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây được xem là một lĩnh vực đặc biệt liên quan đến tất cả các khối ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Lĩnh vực tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm, do đó nó đòi hỏi sự thận trọng, độ chính xác cao và khéo léo trong điều hành hoạt động của ngân hàng để tránh những thiệt hại cho xã hội và cho chính ngân hàng.
Lĩnh vực hoạt động của NHTM góp phần cung ứng một khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế - xã hội. Vì vậy, NHTM là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là loại định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển. Chức năng Ngân hàng thương mại NHTM có ba chức năng cơ bản: 5 • Chức năng trung gian tín dụng: Trung gian tín dụng giữa các chủ thể tạm thời thừa vốn và các chủ thể tạm thời thiếu vốn: NHTM đóng vai trò là người trung gian tiến hành huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn cho vay và sử dụng nguồn vốn cho vay, chiết khấu và tái đầu tư vào các nhu cầu khác trong nền kinh tế.
Trung gian tín dụng giữa Ngân hàng Trung ương (NHTW) và nền kinh tế thị trường: khi NHTM đã tận dụng hết các nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động và nguồn vốn khác mà vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu vay của nền kinh tế thì lúc này NHTM sẽ vay vốn của NHTW. • Chức năng trung gian thanh toán: là việc ngân hàng trả tiền cho khách hàng theo lệnh của chủ tài khoản và nhập vào tài khoản những khoản tiền theo lệnh của họ. NHTM sẽ đứng ra thực hiện các giao dịch thanh toán giữa các khách hàng, giữa người mua và người bán nhằm hoàn tất các mối quan hệ kinh tế thương mại với nhau. • Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng: NHTM cần đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng có liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Do ngân hàng là loại hình định chế tài chính trung gian nên đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THANH KHOẢN NGÂN HÀNG 2. Khái niệm thanh khoản Thuật ngữ thanh khoản được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: - Theo định nghĩa đơn giản của Alshatti (2015) “thanh khoản của NHTM là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn”. - Theo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) “thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được”.
Thanh khoản có sự khác biệt với khả năng thanh toán của NHTM đó là tính chất thời điểm. Ngân hàng vẫn còn khả năng thanh toán trong điều kiện có vốn để trang trải chi phí. Tuy nhiên, nếu không có khả năng thanh toán các khoản nợ vào thời điểm đến hạn thì ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản. Bis (2009) định nghĩa thanh khoản là một khái niệm chuyên ngành về khả năng đáp ứng nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và giao dịch vốn của ngân hàng.
6 Theo Duttweiler (2009), thanh khoản là sự dễ dàng chuyển một tài sản cụ thể thành tiền mặt và khi công ty muốn chuyển tài sản thành tiền mặt thì thị trường vẫn còn khả năng chấp nhận các giao dịch. Thanh khoản của ngân hàng có thể được chia thành hai loại, bao gồm thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo. Thanh khoản tự nhiên được tạo ra từ tài sản của ngân hàng có thời gian đáo hạn theo quy định. Thanh khoản nhân tạo được tạo ra thông qua khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn.
Đo lường thanh khoản Để đo lường thanh khoản, Crosses & Hempel (1980); Aspachs (2005); Tamirisa & Igan (2008); Rose và Hudgin (2008) và Moore (2009) tập trung vào 2 chỉ số thanh khoản sau: Tỷ số tài sản thanh khoản trên tổng tài sản, tỷ số tài sản thanh khoản trên tổng tiền gửi và vốn huy động ngắn hạn, để dự đoán xu hướng diễn biến chính của thanh khoản. Các hệ số phản ánh dữ liệu mà ngân hàng phải đảm bảo các nguồn cung thanh khoản phù hợp với chi phí thấp và trong thời gian ngắn. Điều này liên quan đến việc nắm giữ các danh mục tài sản dễ dàng thanh khoản như tiền mặt, dự trữ bắt buộc hay chứng khoản Chính phủ hoặc có những khoản nợ phải trả ổn định đặc biệt là các khoản nợ tiền gửi của khách hàng lẻ hoặc duy trì hạn mức tín dụng với các tổ chức tài chính khác. Còn tác giả Deep & Schaefer (2005), tác giả đã sử dụng thước đo chuyển đổi thanh khoản để đo lường khả năng tạo thanh khoản của ngân hàng, nó được tính bằng hiệu số của tài sản nợ thanh khoản và tài sản có thanh khoản chia cho tổng tài sản.
Trong đó: tài sản nợ thanh khoản gồm các khoản tiền gửi của cá nhân và Chính phủ, khoản công cụ tiền tệ, séc, tiền gửi ngoại tệ, hối phiếu ngân hàng hay những khoản tiền gửi có kỳ hạn dưới 1 năm; tài sản có thanh khoản gồm tiền mặt, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, chứng khoán, hối phiếu của ngân hàng khác và các khoản vay có kỳ hạn dưới 1 năm. Bên cạnh đó, Theo Peter Rose (2001) rủi ro thanh khoản được đo lường bằng cung thanh khoản và cầu thanh khoản. Trong đó: Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm: Các khoản tiền gửi sẽ nhận được, thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ, các khoản tín dụng sẽ thu về, bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng, vay mượn từ thị trường tiền tệ; cầu thanh khoản là nhu cầu vay vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng bao gồm khách rút tiền từ tài khoản, đề nghị vay vốn của khách hàng, thanh toán của các khoản phải trả, chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, thanh toán cố tức cho cổ đông. 7 Các hệ số mà ngân hàng thường được sử dụng để đánh giá thanh khoản bao gồm: • Hệ số tài sản thanh khoản/tổng tài sản: cho biết khả năng chịu đựng cú sốc thanh khoản.
Hệ số tài sản thanh khoản càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt. Tuy nhiên, hệ số này chỉ đánh giá thanh khoản một bên, bên tài sản của ngân hàng, không đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu thực hiện nghĩa vụ nợ của ngân hàng hoặc nhu cầu vay vốn của khách hàng. • Hệ số tài sản thanh khoản/tổng vốn huy động ngắn hạn: hệ số này cũng liên quan đến tài sản thanh khoản, tuy nhiên hệ số này tập trung nhiều hơn đến sự lựa chọn nguồn tài trợ thanh khoản của ngân hàng như tiền gửi của hộ gia đình, doanh nghiệp và của tổ chức tín dụng qua đó phát hiện được những tổn thương của ngân hàng khi sử dụng các nguồn tài trợ khác nhau. Bên cạnh đó, hệ số còn đánh giá khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ của ngân hàng bằng các nguồn tài trợ khác nhau.
Những lý thuyết về thanh khoản và phương pháp đo lường thanh khoản trên cho thấy mỗi phương pháp đo lường thanh khoản đều có những ưu điểm, nhược điểm và tùy theo những điều kiện không gian, thời gian và tình huống nghiên cứu để chọn phương pháp đo lường thanh khoản phù hợp. Các nhân tố ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng 2. Nhân tố chủ quan • Do cách ngân hàng sử dụng vốn Khi vốn huy động và các khoản vay mượn trên thị trường liên ngân hàng có kỳ hạn ngắn hạn nhưng lại sử dụng để đầu tư dài hạn. Từ đó xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của nguồn vốn huy động, nên dòng tiền vào từ tài sản đầu tư ít hơn dòng tiền ra để chi trả các khoản vốn vay khi đến hạn.
• Tình hình tài chính Thu nhập và chất lượng tài sản kém có ảnh hưởng tiêu cực đối với thanh khoản của ngân hàng. Vì thu nhập đại diện cho dòng tiền giúp cho ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu thanh khoản, thu nhập thấp đồng nghĩa với việc ngân hàng có ít tiền mặt sẵn có hơn. Chất lượng tài sản thấp ví dụ như nợ quá hạn làm giảm thu nhập và ràng buộc ngân hàng với tài sản có tính khả mại kém.