Luận văn thạc sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2006 2008

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2012

109
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Kết cấu của luận văn

2. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Các quan điểm về nghèo

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói ĐBSCL 2006 2008

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những khu vực kinh tế trọng điểm của Việt Nam, đóng góp lớn vào sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu. Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói vẫn còn tồn tại ở nhiều địa phương trong vùng. Nghiên cứu này nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói tại ĐBSCL trong giai đoạn 2006-2008, từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm giảm nghèo.

1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của ĐBSCL

ĐBSCL có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với nhiều hộ gia đình sống phụ thuộc vào sản xuất lúa gạo và thủy sản. Tuy nhiên, sự phát triển không đồng đều giữa các tỉnh thành đã dẫn đến tình trạng nghèo đói ở một số khu vực.

1.2. Tình hình nghèo đói tại ĐBSCL giai đoạn 2006 2008

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ nghèo đói tại ĐBSCL đã giảm nhưng vẫn còn nhiều xã có tỷ lệ hộ nghèo cao. Nhiều nguyên nhân như thiên tai, biến đổi khí hậu và thiếu cơ hội việc làm đã ảnh hưởng đến tình trạng này.

II. Các nhân tố kinh tế ảnh hưởng đến nghèo đói ĐBSCL

Các nhân tố kinh tế như thu nhập, việc làm và khả năng tiếp cận tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tình trạng nghèo đói. Nghiên cứu chỉ ra rằng, thu nhập thấp và thiếu việc làm ổn định là những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói.

2.1. Tác động của thu nhập đến nghèo đói

Thu nhập thấp là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo đói. Nhiều hộ gia đình không đủ khả năng chi trả cho các nhu cầu cơ bản như thực phẩm, giáo dục và y tế.

2.2. Vai trò của việc làm trong việc giảm nghèo

Việc làm ổn định và có thu nhập cao giúp các hộ gia đình cải thiện chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, nhiều người dân tại ĐBSCL vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp.

III. Nhân tố xã hội ảnh hưởng đến nghèo đói ĐBSCL

Các yếu tố xã hội như giáo dục, sức khỏe và tình trạng gia đình cũng có ảnh hưởng lớn đến tình trạng nghèo đói. Nghiên cứu cho thấy rằng, trình độ học vấn thấp và sức khỏe kém là những yếu tố làm gia tăng nguy cơ nghèo đói.

3.1. Tác động của giáo dục đến nghèo đói

Giáo dục là một yếu tố quan trọng giúp nâng cao khả năng kiếm sống. Hộ gia đình có trình độ học vấn cao thường có thu nhập tốt hơn và ít có khả năng rơi vào tình trạng nghèo đói.

3.2. Sức khỏe và nghèo đói

Sức khỏe kém không chỉ ảnh hưởng đến khả năng làm việc mà còn làm tăng chi phí y tế, từ đó làm giảm thu nhập và gia tăng nguy cơ nghèo đói.

IV. Chính sách phát triển và giảm nghèo tại ĐBSCL

Chính sách phát triển và giảm nghèo cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm của từng địa phương. Các chương trình hỗ trợ cần tập trung vào việc nâng cao thu nhập, cải thiện giáo dục và y tế cho người dân.

4.1. Các chương trình hỗ trợ giảm nghèo

Nhiều chương trình hỗ trợ đã được triển khai nhằm giảm nghèo tại ĐBSCL, bao gồm các dự án phát triển nông thôn, hỗ trợ vay vốn và đào tạo nghề cho người dân.

4.2. Đánh giá hiệu quả của chính sách

Đánh giá hiệu quả của các chính sách giảm nghèo là cần thiết để điều chỉnh và cải thiện các chương trình hỗ trợ, đảm bảo rằng chúng thực sự mang lại lợi ích cho người dân.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho ĐBSCL

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, để giảm nghèo hiệu quả tại ĐBSCL, cần có sự phối hợp giữa các chính sách kinh tế, xã hội và môi trường. Hướng đi tương lai cần tập trung vào phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

5.1. Tầm quan trọng của phát triển bền vững

Phát triển bền vững không chỉ giúp cải thiện kinh tế mà còn bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

5.2. Đề xuất giải pháp cho tương lai

Cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả để giải quyết tình trạng nghèo đói, bao gồm cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao giáo dục và tạo cơ hội việc làm cho người dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2006 2008

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Các quan điểm về nghèo Nghèo là một khái niệm diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Trong đề tài này, tác giả sẽ lược khảo các khái niệm về nghèo được các tổ chức, cá nhân nghiên cứu nghèo đói thường sử dụng.

Qua đó, tác giả tìm hiểu những khía cạnh của nghèo đói cũng như quan điểm của những nghiên cứu trước đó. Người nghèo nghĩa là những người có mức sống thấp, họ không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người: Rowntree (1901) cho rằng nghèo là tình trạng thiếu một số lượng tiền cần để “có được những thứ tối thiểu cần thiết cho việc duy trì thể chất thuần tuý” (trích trong Nguyễn Trọng Hoài, 2007). Ủng hộ cho định nghĩa trên, hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do tổ chức Economic and Social Commission for Asia and the Pacific (ESCAP) tổ chức ở Thái Lan năm 1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Blackwood và cộng tác viên (1994) xác định "nghèo" là phần dân số mà không thể đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cơ bản và phụ thuộc vào các biến số như giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, tỷ lệ tử vong ở trẻ em.

Blackwood và cộng tác viên (1994) đề cập “nhu cầu cơ bản” bao gồm nhu cầu vật chất (thực phẩm, sự chăm sóc về y tế, giáo dục, chỗ ở, v.v…) và phi vật chất (sự tham gia, danh dự) và đòi hỏi “có một cuộc sống đầy ý nghĩa". Báo cáo đánh giá vùng về tình hình nghèo đói và quản lý nhà nước có sự tham gia của cộng đồng (RPGA, 2003), nhận thức về đói nghèo của nhóm những người nghèo ở vùng ven biển miền Trung và vùng ĐBSCL, một hộ nghèo có nghĩa là có một ngôi nhà xây tạm bợ (không mái ngói, không tường gỗ), thường xuyên có người ốm, không có hoặc có ít gia súc, không có vốn để kinh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 7 doanh, thiếu kinh nghiệm kinh doanh, không có tài sản có giá trị, có mảnh đất nhỏ và cằn cỗi, có quá nhiều con nhỏ, là người già và cô đơn, bị mất mùa hoặc có thuyền đánh cá không may mắn, không có đủ thức ăn cho quá ba tháng và phải kiếm củi hoặc làm thuê để sống qua ngày. Khái niệm về nghèo này được dùng đề xác định người nghèo ở nước ta cũng như một số quốc gia khác trên thế giới về nghèo đói do tính đơn giản, trực diện của nó. Nghèo khiến người nghèo không có khả năng và quyền tự do để đạt cuộc sống mà họ mong muốn, hơn nữa họ còn thiếu cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng: Theo Sen (1999), nghèo là không có khả năng và quyền tự do đáng kể để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn”.

Theo báo cáo phát triển Việt Nam (BCPTVN, 2004), nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện: thu nhập bị hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị xỉ nhục, không được người khác tôn trọng. Qua thời gian, ngân hàng thế giới cũng có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong các báo cáo của mình. Trong Báo cáo phát triển Việt Nam năm 1990, định nghĩa nghèo đói của tổ chức này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2000-2001, báo cáo đã thêm vào khái niệm những nét mới như tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương.

Báo cáo cho rằng, xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng, nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường; nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra bên lề xã hội TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 8 nên không có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế đó, và nghèo chính là tình trạng mà cá nhân hoặc hộ gia đình không có khả năng có mức sống tối thiểu. Tóm lại, nghèo đói là một phạm trù rất rộng và định nghĩa về nghèo đói có thể được hiểu không chỉ sự túng thiếu về mặt vật chất, mà còn liên quan đến rủi ro, tính dễ bị tổn thương, vấn đề xã hội và các cơ hội (WB, 2006).

Tổng hợp tất cả những quan niệm về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo - Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. Trong nghiên cứu tác giả sử dụng chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới để tính toán và phân tích. - Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người. - Thiếu khả năng và quyền tự do để đạt cuộc sống mà họ mong muốn, thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.

Và mặc dù có sự đa dạng trong khái niệm nghèo, các nhà nghiên cứu vẫn thường đo lường nghèo trong các phân tích nhằm cung cấp thông tin cho các chính sách công hoặc để đánh giá được mức độ thành công của các chính sách đó. Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau chung nhất thường là ở chỗ thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.Trong nghiên cứu tác giả sử dụng chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới để tính toán và phân tích. Xác định ngưỡng nghèo Wagle (2002) đề ra ba tiêu chuẩn chính về cách tiếp cận nghèo: tình trạng về kinh tế, sức khỏe và tình trạng bị gạt ra ngoài lề của xã hội (và có 3 bước để xác định nghèo đói: (i) định nghĩa phúc lợi của hộ gia đình/ cá nhân, (ii) xác định một giá trị chuẩn (tối thiểu) để tách biệt 2 nhóm nghèo và không nghèo (gọi là ngưỡng nghèo) và (iii) tính toán các chỉ số thống kê tổng hợp dựa trên mối quan hệ giữa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 9 phúc lợi kinh tế và ngưỡng nghèo (WB, 2005).

Trong đó, đo lường phúc lợi phức tạp hơn, nó rộng hơn chỉ số phúc lợi kinh tế. Bởi phúc lợi còn bao gồm tuổi thọ, chế độ dinh dưỡng, điều kiện nhà ở, tỷ lệ trẻ em đến trường, tỷ suất tử vong của trẻ em (WB, 2005). WB (2005), ngưỡng nghèo (hay còn gọi nghèo) là ranh giới để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo. Có hai cách chính để xác định ngưỡng nghèo: 1.

Ngưỡng nghèo tuyệt đối: Chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh. Phương pháp chung để xác định ngưỡng nghèo này sử dụng một rổ các loại lương thực được coi là cần thiết, để đảm bảo mức độ dinh dưỡng tốt cho con người. Rổ lương thực đó sẽ tính đến cả cơ cấu tiêu dùng lương thực của các hộ gia đình đặc thù của một nước.Trên cơ sở đó hai ngưỡng nghèo tuyệt đối sẽ được tính toán. Ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm: đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một gia đình có thể đủ mua một lượng lương thực, thực phẩm để cung cấp cho mỗi thành viên trong hộ một lượng calo là 2100 calo một ngày.

Ngưỡng nghèo này thường thấp vì nó không tính đến chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực khác. Ngưỡng nghèo chung: đo lường chi phí để mua đủ một lượng hàng hóa lương thực thực phẩm cung cấp lượng calo là 2100 calo và một số mặt hàng phi lương thực. Trên bình diện quốc tế, WB đã tính toán ngưỡng nghèo tuyệt đối cho các nước thu nhập thấp là 1 đô la Mỹ/ngày, từ 2 đô la cho châu Mỹ La tinh và Caribe, đến 4 USD cho những nước Đông Âu, cho đến 14,40 USD cho những nước công nghiệp. Để đảm bảo tính so sánh được giữa các nước, những ngưỡng nghèo này được tính theo ngang giá sức mua.

Từ năm 1981, chuẩn nghèo toàn cầu được áp dụng ở mức thunhập 1 USD/ngày. Chuẩn nghèo này đã được điều chỉnh thành 1,25 USD/ngày kể từ năm 2005, sau khi tính đến yếu tố lạm phát. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 10 Còn ở Việt Nam hiện tại chưa có sự thống nhất về tiêu chí đánh giá nghèo theo thu nhập hay theo chi tiêu dùng. Vì vậy, trên thực tế việc phân tích đánh giá nghèo vẫn sử dụng một trong hai ngưỡng nghèo tuyệt đối: - Ngưỡng nghèo của Tổng cục thống kê (TCTK), xác định dựa theo cách tiếp cận của WB là sử dụng chỉ tiêu chi tiêu để đo lường nghèo.

Chuẩn nghèo chung của TCTK và WB với mức chi tiêu bình quân/người/tháng qua các năm như sau: năm 2002: 160 nghìn đồng, năm 2004: 173 nghìn đồng, năm 2006: 213 nghìn đồng và năm 2008: 280 nghìn đồng. - Ngưỡng nghèo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), xác định ngưỡng nghèo mang tính chất tương đối hơn và tiếp cận từ khía cạnh thu nhập. Chuẩn nghèo do Bộ LĐTBXH đưa ra đã được điều chỉnh năm lần vào các năm 1993, 1997, 1998, 2001 và 2005. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo.

Chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015, là 400.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ