Chương 1: Giới thiệu. Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Trình bày các khái niệm có liên quan; tổng quan về các nghiên cứu trước; mối quan hệ của các nhân tố ảnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 hưởng đến động lực làm việc của giáo viên; mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày quy trình nghiên cứu; Kết quả nghiên cứu định tính; Phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu và phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Trình bày thống kê mô tả mẫu nghiên cứu; kiểm tra độ tin cậy của thang đo, kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của đội ngũ giáo viên; thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách. Trình bày những khuyến nghị nhằm tạo động lực làm việc của giáo viên trên địa bàn huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Giáo viên Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, giáo viên là người giảng dạy, giáo dục cho học viên, lên kế hoạch, tiến hành các tiết dạy học, thực hành và phát triển các khóa học nằm trong chương trình giảng dạy của nhà trường đồng thời cũng là người kiểm tra, ra đề, chấm điểm thi cho học sinh để đánh giá chất lượng từng học trò. Giáo viên nam thường được gọi là thầy giáo còn giáo viên nữ thường được gọi là cô giáo. Viên chức Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Điều 2, Luật viên chức năm 2010). Động lực và động lực làm việc Động lực là năng lượng làm cho máy móc chuyển động; hay là cái thúc đẩy, làm cho phát triển (Từ điển tiếng Việt, 1996).
Động lực là một trong những chủ đề nghiên cứu thường xuyên nhất trong các nghiên cứu hành vi tổ chức (Latham and Pinder, 2005). Do vậy, có rất nhiều khái niệm khác nhau về động lực. Động lực là lý do để thực hiện hành vi (Guay, 2000). Theo Pinder (2008), động lực là quá trình để hiểu được cường độ, định hướng và sự kiên trì của một cá nhân trong nỗ lực hướng đến mục tiêu.
Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả; biểu hiện của người có động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động (Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương, 2009). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Theo Maier và Lawler (1973), động lực là sự khao khát và sự tự nguyện của mỗi cá nhân, họ đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện Theo Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu. Higgins (1994) cho rằng động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2004) thì “động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”.
Theo Mitchell (1982), động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. Theo Rainey (2003), động lực làm việc liên quan đến mong muốn làm việc tích cực và làm việc tốt của một người, nghĩa là sự khơi gợi, định hướng và tồn tại lâu dài của nỗ lực trong bối cảnh làm việc. Động lực làm việc của mỗi nhân viên thể hiện ở thái độ, tinh thần làm việc tích cực, góp phần tạo ra môi trường làm việc hiệu quả, kích thích nhu cầu làm việc của những người xung quanh. Từ những khái niệm nêu trên, có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực và động lực làm việc.
Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích động viên con người thực hiện những hành vi nhằm đạt mục tiêu nhất định. Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Các lý thuyết về động lực làm việc 2. Thuyết tháp nhu cầu của Maslow (1943) Maslow chia nhu cầu làm năm cấp bậc tăng dần (Hình 2.1): (1) sinh học, (2) an toàn, (3) xã hội, (4) tự trọng (5) tự khẳng định.
Nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn được xem là những nhu cầu cấp thấp, còn nhu cầu yêu thương, nhu cầu được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện được xếp vào loại nhu cầu cấp cao. Theo lý thuyết này con người phải thoả mãn những nhu cầu bên dưới hệ thống thứ bậc trước khi các nhu cầu bậc cao trở nên quan trọng. Từ lý thuyết này, các nhà quản lý cần phải biết được nhân viên của mình đang ở cấp bậc nhu cầu nào để từ đó động viên nhân viên bằng cách đáp ứng các nhu cầu cá nhân đó của họ.1: Các cấp bậc của nhu cầu Maslow Nguồn: Kreitner, R & Kinicki, A (2007), Organizational Behavior, 7th Edition 2. Thuyết ERG của Clayton Alderfer (1969) Thuyết ERG của Clayton Alderfer (1969) được xây dựng trên nền tảng tháp cấp trúc nhu cầu của Malow (1943).
Thuyết ERG thể hiện sự liên quan đến động viên nhân viên làm việc, thuyết này giải thích tại sao nhân viên lại không ngừng tìm kiếm mức lương cao hơn và công việc tốt hơn ngay khi các điều kiện này cơ bản đáp ứng. Khi các nhân viên chưa thỏa mãn nhu cầu giao tiếp và nhu cầu tăng trưởng hiện tại, họ sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn. Vì vậy, nhân viên có thể dự định nghỉ việc ở tổ chức hiện tại để tìm đến một công việc mới có liên quan đến sự thỏa mãn của nhu cầu phát triển trong công việc của họ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Học thuyết hai nhóm nhân tố của Herzberg (1959) Học thuyết này được phân ra làm hai nhóm nhân tố có tác dụng tạo động lực: (1) Nhóm nhân tố thúc đẩy: là các nhân tố thuộc bên trong công việc, tạo nên sự thỏa mãn, bao gồm: những thành tích cá nhân, địa vị, sự thừa nhận, bản thân công việc, trách nhiệm, sự thăng tiến. Đây chính là 5 nhu cầu cơ bản của người lao động khi tham gia làm việc. Đặc điểm của nhóm này là nếu không được thỏa mãn thì dẫn đến bất mãn, nếu được thỏa mãn thì sẽ có tác dụng tạo động lực; (2) Nhóm nhân tố duy trì: là các nhân tố thuộc về môi trường làm việc của người lao động, bao gồm: lương thưởng, các chính sách và quy định quản lý của tổ chức, những mối quan hệ cá nhân với cá nhân, chất lượng của việc giám sát, công việc ổn định, điều kiện làm việc, sự cân bằng cuộc sống và công việc. Các nhân tố này khi được tổ chức tốt sẽ có tác dụng ngăn ngừa sự không thỏa mãn đối với công việc của người lao động.
Nhân tố động lực Nhân viên không Nhân viên Nhân tố duy trì Nhân viên bất mãn và không còn bất mãn không còn bất có động lực nhưng không có mãn và có động lực động lực Hình 2.2: Thuyết hai nhân tố của Herzberg Nguồn: Herzberg (1959) Theo lý thuyết này, hai nhóm nhân tố trên có thể kết hợp thành bốn tổ hợp như sau: Hài lòng cao + Động lực cao: Tình hình lý tưởng mà nhân viên là rất năng động và có vài khiếu nại; Hài lòng cao + Động lực thấp: Người lao động có vài khiếu nại, nhưng không có động lực cao. Hài lòng thấp + Động lực cao: Nhân viên có động cơ nhưng có rất nhiều khiếu nại. Một tình huống mà công việc rất thú vị và đầy thử thách nhưng mức lương và điều kiện làm việc không tương xứng; Hài lòng thấp + Động lực thấp: Đây là tình huống xấu nhất mà nhân viên không có động lực và có nhiều khiếu nại. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Thuyết của David McClelland (1953) David McClelland (1953) cho rằng tập trung tạo động lực làm việc và cải thiện quá trình thực hiện công việc do đem lại sự hài lòng công việc của nhân viên. McClelland cũng cho rằng có 3 loại nhu cầu trong công việc của con người: Nhu cầu thành đạt: Nhu cầu của con người luôn muốn cố gắng nỗ lực để đạt được những thành công nhất định trong công việc cũng như trong cuộc sống; Nhu cầu quyền lực: Thể hiện ở việc mong muốn có khả năng chi phối, điều khiển và kiểm soát người khác. Người có nhu cầu quyền lực cao thích được giao các trách nhiệm, thích làm các công việc có tính chất cạnh tranh hướng về địa vị; Nhu cầu liên minh làm việc với lãnh đạo và đồng nghiệp: Thể hiện qua nhu cầu về giao tiếp, chuyện trò, kết bạn với những người xung quanh, xuất phát từ nhu cầu xã hội. Những người có nhu cầu liên minh với lãnh đạo và đồng nghiệp luôn cố gắng duy trì các mối quan hệ hài hòa với mọi người.
Trong đó, nhu cầu thành đạt có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả công việc hay hài lòng công việc của nhân viên. David McClelland (1953) cho thấy để khuyến khích mọi người làm việc thì người lãnh đạo phải hiểu được những người dưới quyền họ có loại nhu cầu nào mạnh, yếu để có các biện pháp đáp ứng nhu cầu của nhân viên trong tổ chức mà vẫn đảm bảo được mục tiêu của tổ chức. Lý thuyết về sự công bằng của Adams (1963) Lý thuyết công bằng của Adam (1963) thuộc nhóm lý thuyết động lực làm việc nhằm xác định: (i) yếu tố đầu vào (inputs) mà nhân viên đóng góp công sức trong công việc của bản thân và (ii) các yếu tố đầu ra (outputs) mà nhân viên nhận được từ công việc. Sau đó, yếu tố đầu vào và đầu ra của bản thân được xem xét và so sánh với yếu tố đầu vào và đầu ra của đồng nghiệp trong công ty.