CHƯƠNG 1: GIỚI THIEU CHUNG I1 Giới thiệu Khái niệm chi phí giao dịch dau tiên được Ronald Coase dé cập trong bài viết nỗi tiếng năm 1937 của mình với tựa đề “Bản chất của doanh nghiệp.” Coase đặt ra câu hỏi rằng “các lý thuyết kinh tế nhắn mạnh đến vai trò hiệu quả của cơ chế thị trường cạnh tranh, nhưng tại sao quá nhiều hoạt động kinh tế lại diễn ra ngoài phạm vi của hệ thống giá của thị trường” va Coase kết luận răng phải tồn tại một chi phí trên thị trường mà chỉ có cơ cau doanh nghiệp có thé thé tiết kiệm được. Ngành kinh tế hoc chi phí giao dịch cũng bắt đầu từ công trình này và một số bài viết sau đó đã đưa ông đến giải thưởng Nobel năm 1991 về “khám phá và làm rõ tầm quan trong của chi phí giao dich và quyên sở hữu trong các câu trúc tô chức và cách vận hành của thị trường”. Tuy nhiên, người có công phát triển kinh tế học chi phí giao dịch lại chính là giáo sư Oliver Eaton Williamson (University of California, Berkeley). Bài viết năm 1975 của ông về “Thị trường và tô chức nội bộ: phân tích và các ứng dụng chống độc quyền” đã hình thành những nghiên cứu chi phí giao dịch như là thành tố co bản của lý thuyết kinh tế vé to chức.
Kenneth Arrow (1969) đã định nghĩa các chi phí giao dịch là “các chi phí vận hành hệ thống kinh tế”. Cần phải phân biệt các chỉ phí đó với chi phí sản xuất, vốn là loại chỉ phí mà các phân tích trước đây quá bận tâm đến. Chi phí giao dịch là yếu tố kinh tế tương đương với sức ma sát trong các hệ thống vật lý. Tuy các nhà vật lý học đã nhanh chóng nhận ra rang sức ma sát có mặt khắp nơi và cần phải được xét đến một cách rõ ràng, thì các nhà kinh tế học đã không hiểu và đánh giá tương ứng về các chi phí này cho việc vận hành hệ thống kinh tế.
Hầu như không có dé cập nao đến chi phí giao dịch và càng không dé cập đến các chi phí giao dịch như là yếu tố tương đương của sức ma sát (Williamson, 1985). Chi phí giao dịch trong quá khứ còn được xem là lang phí và như một cai gi đó cần được giảm thiểu nhưng Randall (1981) đã lập luận rang những chi phí này không phải là “tiền phung phí một cách vô ích chúng được chỉ tiêu dé đối lay các dịch vụ giao dịch". HVTH: TRAN VĂN THIỆN l Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. LƯU TRƯỜNG VĂN Kinh tế học chi phí giao dịch đặt van đề về tổ chức kinh tế như van dé thiết lập hợp đồng.
Nghĩa là một nhiệm vụ cụ thể phải được hoàn thành dù được tô chức theo bất cứ cách nào trong nhiều cách khác nhau, hop đồng rõ ràng hay ngầm an và bộ máy hỗ trợ gan kết với mỗi hợp dong ra sao, các chi phí là gì (Williamson, 1985). Trong ngành công nghiệp xây dựng những hàng hóa ký hợp đồng thường chiếm ưu thế. Những hàng hóa này rất điển hình và có độ phức tạp cao cần đến một quá trình động dé hoàn thành và liên quan đến những yêu cau thay doi, những khiếu nại và thỉnh thoảng là những tranh chap pháp lý do sư khác biệt về lợi ích của các bên tham gia ký kết hợp đồng (Brockmann, 2001). Sự tranh cãi chủ yếu là ngoài chi phí thực hiện sản xuất còn có chi phí giao dịch của các bên tham gia (Winch, 1989).
Hau hết các nghiên cứu về chi phí giao dịch đều mang tính lí thuyết và định tính và chỉ có một vài nghiên cứu, chủ yếu là ở Châu Au, cố gắng định lượng chi phí giao dịch trong dự án liên doanh. Các nghiên cứu theo lối kinh nghiệm trong các dự án khác ngoài dự án liên doanh tư nhân cũng bị thiếu. Lí do cho sự hạn chế các nghiên cứu về chỉ phí giao dịch xuất phát từ những khó khăn sau đây. Li (2013) nhận thay khó khăn dau tiên đó là khái niệm về chi phí giao dich không được chấp nhận bởi tất cả người tham gia trong ngành công nghiệp xây dựng và chưa được thừa nhận nhiều bởi những thực hành hiện đại Thứ hai, đó là sự không nhất quán trong thuật ngữ được sử dụng cho chi phí giao dịch.
Một số nhà nghiên cứu gọi nó là chi phí dau thầu, một số gọi là chi phí giao dịch, một số khác gọi chi phí hợp đồng hoặc chi phí mềm như hiệp hội nghiên cứu vận tải của Mỹ (AECOM 2012). Có nhiều khó khăn trong việc thu thập dữ liệu và làm cho các phân tích, mô phỏng dữ liệu gần như không thể (Farajan, 2010) do không có sự thống nhất về định nghĩa của chi phí giao dịch trong và giữa các ngành nghiên cứu. Mặc dù Williamson (1985) định nghĩa chỉ phí giao dịch bao gồm các chi phí soạn thảo, đàm phán và thực thi một thỏa thuận, và cũng là chi phí quan lí và liên kết để đảm bảo cam kết nhưng Rahman và Kurmaraswamy (2002) cho răng chi phí giao dich cũng bao gém các chi phí liên quan đến những vi phạm hop đồng, và Joskow (1985) b6 sung thêm chi phí tìm kiếm và xử lý HVTH: TRAN VĂN THIỆN 2 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. LƯU TRƯỜNG VĂN thông tin, chi phí pháp lý, chi phí tổ chức, và chi phí liên quan đến hành vi ra giá và sản xuất không hiệu quả.
Hơn nữa, sự ghi nhận khác nhau về chi phí giao dịch trong các dự án cũng là một khó khăn. Việc thiếu những hướng dẫn tiêu chuẩn cũng như sự hạn chế của hệ thống kế toán hiện hành đã không thể giải quyết việc đo lường chi phí giao dịch trong ngành công nghiệp xây dựng.2 Xác định van đề nghiên cứu Trên thế giới hiện nay, số lượng các công trình nghiên cứu về chi phí giao dịch trong ngành công nghiệp xây dựng là khá ít chủ yếu là các nghiên cứu theo lối kinh nghiệm có thé tham khảo như nghiên cứu của Dudkin và Valila (2005), Solin va Gago de Santos (2009), va Farajian (2010). Ở Việt Nam, các nghiên cứu về chỉ phí giao dịch chủ yếu tập trung trong các ngành kinh tế và hau như chưa được thực hiện cho môi trường xây dựng. Tuy chưa có nhiều, nhưng các công trình nghiên cứu này đều đã chỉ ra sự ton tại của chỉ phí giao dịch trong tất cả các mối quan hệ kinh tế dựa trên hợp đồng.
Một khi đã xác định được sự tôn tại của chi phí giao dịch gánh chịu bởi các bên tham gia trong các hợp đồng kinh tế xây dựng, mỗi quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nói chung va của các đơn vi tham gia vào dự án như chủ đầu tư, nhà thầu chính, nhà thầu phụ nói riêng là tìm kiếm các nhân t6 dé giải thích cho cho chúng. Việc nhận dạng các nhân tô nào có ảnh hưởng đến chi phí giao dịch, sự khác biệt của những nhân tố này ứng với từng đơn vị tham gia hop đồng và từ đó đề xuất các giải pháp nào khả thi và hiệu quả để giảm thiểu chi phí giao dịch đang trở nên cần thiết đối với các nhà quản lý và hoach định. Vì lẽ đó, van dé tìm kiếm nhân tố ảnh hưởng đến chi phí giao dịch và đánh giá các biện pháp tiết giảm loại chi phí này đã được dé cập đến như là dé tài của nghiên cứu. 13 Mục tiêu nghiên cứu Tuy không tập trung vào tháo gỡ các hạn chế như đo lường chi phí giao dich hay tháo gỡ các vướng mắc trong hệ thông kế toán hiện hành v.như đã nêu, nhưng nghiên cứu này của tác gia sẽ nhăm đên những mục tiêu sau.
HVTH: TRAN VĂN THIỆN 3 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. LƯU TRƯỜNG VĂN - Xác định các nhân tố quyết định ảnh hưởng đến chi phí giao dịch do nhà thâu chính/ tong thầu thi công gánh chịu trong giai đoạn sau khi ký kết hợp đồng. - _ Xây dựng mô hình đo lường cho các nhóm nhân tô và mô hình phương trình cau trúc thé hiện mối quan hệ giữa chi phí giao dịch với các nhóm nhân tổ đó. - Dé xuất và xếp hạng các giải pháp để giảm thiểu chi phí giao dịch cho nhà thâu chính/tông thâu thi công trong dự án xây dựng.4 Pham vi nghiên cứu Khi hợp đồng xây dung giữa nhà thầu và chủ dau tu được ký kết, điều đó đồng nghĩa một giao dịch đang diễn ra, mỗi bên nhà thầu hoặc chủ đầu tư đều sẽ gánh chịu các chi phí giao dịch của riêng mình.
Đứng ở quan điểm nhà thầu trong mối quan hệ hợp đồng giữa nhà thầu và chủ dau tư, khoản chi phí này chịu sự tác động từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm: - _ Nội bộ nhà thầu. - Don vị tác động trực tiếp: chủ đầu tư. - Don vị tác động gián tiếp: các đơn vị có liên quan đến dự án như nhà thầu phụ, nhà cung cấp, các đơn vị tư vấn, thiết kế, các cơ quan chính quyên, ngân hàng, các đơn vị bảo hiểm, thí nghiệm, v. - Cé6ng tác quản lý dự án, và - Hop đồng và môi trường giao dịch.
Với dé tài luận văn này, đối tượng nghiên cứu mà tác giả nhắm đến là chi phí giao dịch của nhà thầu trong giai đoạn sau khi ký kết hợp đồng xây dựng giữa nhà thầu và chủ đầu tư. Và đối tượng khảo sát được đề xuất trong nghiên cứu là những doanh nghiệp, công ty đã từng hoạt động trong lĩnh vực xây dựng ở thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận, với vai trò là nhà thầu chính hay tong thầu thi công. Đối tượng thích hợp trả lời bảng câu hỏi là những thành viên đã từng tham gia quản lý dự án hoặc chịu trách nhiệm trong quản lý hợp đồng xây dựng của các công ty nhà thầu. Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 7/2014 đến tháng 12/2014.
HVTH: TRAN VĂN THIỆN 4 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. LƯU TRƯỜNG VĂN 15 Đóng góp cua nghiên cứu Qua đề tài nghiên cứu này, tác giả mong muốn đóng góp thêm một cách nhận thức mới về chi phí giao dịch trong ngành xây dựng cũng như những kết quả đạt được về nhân tố ảnh hưởng đến chi phí giao dịch.1 Về mặt lý luận Đề tài này sẽ đóng góp thêm vào một hướng nghiên cứu cho ngành quản lý xây dựng — nghiên cứu về chi phí giao dịch trong nền công nghiệp xây dựng ở Việt Nam vốn chưa nhận được sự quan tâm đáng kế của các nhà nghiên cứu trong nước trước đây.